Tác giả: Sơn Chi Tử
Trên bàn đặt một ngọn đèn cô độc lay lắt, ánh sáng vàng vọt tràn ngập cả gian phòng, A Hằng bước ra ngoài cửa phúc sơn xanh, không hề để ý rằng trên giường trong phòng, hàng mi dày của thiếu niên khẽ động, rồi mở mắt ra, hắn dõi theo bóng lưng nàng dần dần hòa vào màn đêm, trở nên mờ nhạt, nhưng bên tai vẫn mơ hồ nghe được tiếng bước chân lộ vẻ bực bội của nàng.
A Hằng càng đi càng nhanh, rồi bỗng dừng lại dưới một hành lang, đứng cạnh ánh đèn, nàng cúi mắt nhìn đôi bàn tay mình, những áng hồng nhạt như mây cháy lên nơi rìa móng tay trong suốt, phô bày sự sắc bén vô hạn của chúng.
Một cơ hội tốt biết bao.
Trong đáy mắt A Hằng tràn đầy mơ hồ, chợt có một cơn gió lạnh ập tới, nàng cảnh giác ngẩng đầu nhìn, chỉ thấy giữa đám núi giả lởm chởm kia, trong một hang động nào đó lại le lói ánh sáng xanh tối.
A Hằng vừa nghi hoặc không biết trong hang hồ ly kia chẳng lẽ còn có thứ gì đang quấy phá, thì từ vùng ánh sáng xanh thẳm ấy truyền đến một giọng nói già nua mang theo ý cười: “Tiểu cô nương, lại đây.”
Là giọng của Mạnh bà.
A Hằng bước tới, vừa đặt chân vào trong động, liền cảm thấy bốn bề đen nhánh, nhưng những dòng sáng xanh u lam lập lòe dẫn đường, nàng theo đó tiến lên, không biết đã đi bao lâu, bỗng thấy không gian xung quanh mở rộng, làn sương nhàn nhạt tản ra, phía xa bên bờ sông hiện lên dáng dấp của một cây cầu đá vòm, trên cầu đang có mấy bóng người mờ tối, A Hằng tiến lại gần, lúc này mới nhìn rõ cảnh tượng trên cầu, Mạnh bà vẫn là dáng vẻ ấy, trông chẳng khác gì một bà lão nơi dương gian, bà múc một bát canh, cười hiền từ đưa cho người đối diện, nói: “Đến đây, uống một ngụm canh, sưởi ấm thân mình, kiếp sau sẽ tốt thôi.”
Đó là một nữ tử, mái tóc đen dài xõa xuống, một thân váy áo trắng tinh, quay lưng về phía A Hằng, chậm rãi bước lên cầu, nghe thấy giọng nàng ta: “Ngài… không cần lại moi thứ gì ra khỏi đầu ta nữa sao?”
A Hằng khựng lại, giọng nói này dường như… là của Tạ Triều Yến.
Mạnh bà lại hỏi: “Ngươi muốn ta moi ra thứ gì? Ngươi chẳng phải đã từng nếm trải cảm giác ấy rồi sao? Đau lắm, rất đau.”
“Dù có đau đến đâu, cũng xin ngài hãy moi nó đi,” Tạ Triều Yến hơi cúi người, nói, “ta không muốn nhớ lại những điều đó nữa, bất kể là Triệu Phương Như, hay Tạ Triều Yến, ta đều như nhau, đều không thể thay đổi số mệnh của mình, có lúc không nhớ được gì, mới là giải thoát.”
Mạnh bà lại đưa bát canh tới trước mặt nàng ta, cười nói: “Ngươi đã không còn chấp niệm, vậy hà tất phải để ta động tay moi ra nữa? Gốc chấp của ngươi đã không còn tồn tại.”
“… Cái gì?”
Tạ Triều Yến ngơ ngác nhìn bà.
Lúc này, Nghiêu Vũ đứng bên cạnh vung bút phán quan trong tay, đầu bút lóe lên ánh vàng, giữa không trung ngưng tụ thành một trang chữ vàng, trên đó là cuộc đời của một người họ Triệu.
Ánh mắt Tạ Triều Yến lập tức dán chặt vào từng hàng chữ ấy, mắt nàng hơi mở to, Nghiêu Vũ nhìn nàng, nói: “Sau khi ngươi chết ở kiếp trước, chính ông ấy đã tự mình đón thi thể ngươi về nhà họ Triệu, khi đó ông mới biết chuyện nhà họ Ôn mạo nhận ân cứu mạng, ông hối hận chẳng kịp, hận mình đã nhìn lầm Ôn Vinh Sinh, để đòi lại công đạo cho ngươi, ông đã báo quan, nhưng vì có yêu nữ Mạo Châu từ giữa cản trở, vụ án này nhiều năm không thể kết luận, nửa đời sau của ông ấy gần như đều bôn ba khắp nơi tìm lại những đồng liêu cũ, không cầu họ làm việc tư lợi, chỉ cầu một phán quyết công bằng, đến khi ngoài bảy mươi tuổi, ông tán gia bại sản tìm được một cao nhân đắc đạo hàng phục được Mạo Châu, lúc này vụ án Ôn Vinh Sinh lừa hôn ngược đãi vợ mới được định đoạt, ông cũng rốt cuộc an lòng, trút hơi thở cuối cùng.”
Người mà Nghiêu Vũ nhắc tới, chính là cha Triệu Phương Như.
Tạ Triều Yến chưa uống canh Mạnh bà, vì thế ký ức về Triệu Phương Như, ký ức về Tạ Triều Yến, tất cả đều đan xen trong đầu nàng, nàng sững sờ nhìn tờ chữ vàng lơ lửng giữa không trung.
Nàng thế nào cũng không dám tin, đó lại là cha của Triệu Phương Như.
Rõ ràng ông cổ hủ như vậy, thanh cao như vậy, rõ ràng ông luôn tự cho mình là chính nhân quân tử, coi trọng lời hứa, coi trọng chữ tín, rõ ràng ông căm ghét nhất những mối quan hệ nhân tình thế thái nơi quan trường, một người như thế, sao có thể hạ mình đi cầu xin người khác, đi chạy vạy khắp nơi…
Nàng bỗng bật cười lạnh: “Ông làm những chuyện ấy… thì có ích gì chứ? Cuộc đời của ta, chẳng phải chính tay ông hủy hoại hay sao?”
Cười rồi cười, hốc mắt nàng lại bị nước mắt thấm ướt.
Ván đã đóng thuyền, đó là câu nàng nghĩ ông sẽ nói với nàng, vì sợ từ miệng ông nghe được bốn chữ ấy, nên nàng càng nhẫn nhịn tất cả, u uất mà chết.
Nàng bỗng đưa tay nhận lấy bát canh từ tay Mạnh bà, thì nghe thấy tiếng bước chân tiến lại gần, nàng quay đầu lại, thấy là A Hằng, liền sững người, rất nhanh nhớ lại đủ loại cảnh tượng trong giấc mộng kia, nhớ đến việc A Hằng hóa thành dáng vẻ của nàng, để nàng nhìn thấy một Triệu Phương Như khác, một Triệu Phương Như đã tự tay giết chết Ôn Vinh Sinh.
“Cô nương A Hằng.”
Tạ Triều Yến gọi.
A Hằng liếc nhìn nàng một cái, rồi quay sang hỏi Nghiêu Vũ: “Nàng ta chỉ bị thứ dơ bẩn cắn một cái thôi, chẳng lẽ không thể hoàn dương nữa sao?”
Ánh mắt Nghiêu Vũ nhìn A Hằng vẫn dịu dàng như cũ: “Chỉ một cắn của hồ yêu, đã xé rách thần hồn của nàng ta, cách giải duy nhất, là lập tức vào luân hồi, có được một thân thể máu thịt mới, thì thần hồn khiếm khuyết mới có thể được nuôi dưỡng.”
“Cô nương A Hằng, ta không để ý đến những điều đó nữa.”
Tạ Triều Yến lắc đầu, rồi hỏi nàng: “Đạm Vân tỷ tỷ… tỷ ấy có ổn không?”
A Hằng nhớ lại cảnh Tạ Đạm Vân tỉnh lại, miệng đầy máu, ôm lấy thi thể Tạ Triều Yến mà miệng không thể nói nên lời, nàng không biết thế nào mới gọi là ổn, liền nói: “Nàng ấy vẫn còn sống.”
“Ta cũng nghĩ vậy, nếu không, ta đã gặp tỷ ấy ở đây rồi,” Tạ Triều Yến gật đầu, nói, “tâm tính của tỷ ấy tốt hơn ta, ngay cả ông ngoại cũng nói tỷ ấy trầm ổn hơn, có thể gánh vác được việc lớn hơn…”
Mái tóc đen nhạt rủ xuống bên gò má tái nhợt của Tạ Triều Yến: “Trước đây ta chưa từng biết giữa ta và Đạm Vân tỷ tỷ lại có duyên phận như vậy, ta từng là Triệu Phương Như, tỷ ấy chính là Lâm Tam nương ở gần nhà ta, kiếp trước chúng ta không quen biết, kiếp này lại có duyên đầu thai vào cùng một nhà, nhưng chúng ta đều bị chấp niệm trói buộc, kiếp trước đều bị tổn thương bởi hôn nhân, nên kiếp này trong lòng trong mắt đều chỉ còn một mối nhân duyên tưởng chừng hoàn mỹ… nhưng rốt cuộc thế nào mới là một đoạn nhân duyên tốt đẹp nhất trên đời đây?”
“Đó không phải lỗi của cô.”
A Hằng suy nghĩ một lát, nói: “Là dương gian quá kỳ quái, ta thấy, trong mắt rất nhiều đàn ông, yêu nữ đắm chìm trong dục vọng, thì đối với họ lại là vì si mê họ, nữ tử nếu giỏi làm thơ viết văn hơn họ, trong mắt họ lại là một sự vượt quyền, cha hy vọng con gái thuận theo ý chí của mình mà gả cưới, mẹ thì theo lẽ hẳn cho rằng tương lai của con gái nên trở thành phụ thuộc của một đàn ông, rõ ràng nam tử, nữ tử đều là con người, nhưng nữ tử lại giống như sinh ra đã bị nhốt trông lồng sắt chật hẹp, cho rằng thứ mình nhìn thấy trong mắt, chính là tất cả.”
A Hằng nhìn bát canh trong tay nàng, hơi nóng vẫn không ngừng bốc lên, A Hằng không khỏi hỏi: “Cho dù vậy, cô vẫn muốn lại bước vào luân hồi sao?”
Tạ Triều Yến khẽ giật mình, nàng theo ánh mắt A Hằng cúi đầu, nhìn thấy bát canh trong suốt, trong canh mơ hồ phản chiếu gương mặt nàng, nàng chậm rãi gật đầu: “Cô nương A Hằng, trước đây ta rất sợ cô, bởi vì ta từng gặp yêu nữ như Mạo Châu, ta cho rằng yêu đều giống nhau, vừa đa tình lại vô tình, đều không có trái tim, không biết thương xót, tuyệt đối không lương thiện, vì thế, ta còn nghĩ đủ mọi cách để đuổi các cô ra khỏi phủ Tạ… xin lỗi, cô nương A Hằng, là ta đã sai.”
A Hằng sững người, lại thấy Tạ Triều Yến ngẩng mặt lên, thậm chí còn nở một nụ cười với nàng: “Ta vì gốc chấp mà nhớ lại hết thảy chuyện của kiếp trước, rõ ràng ta sợ hãi những ký ức ấy, vậy mà lại vì chấp niệm mà cố chấp giữ lấy, thực ra ta rất sợ sẽ lại mơ thấy tất cả những điều đó, nhưng giờ đây thứ khắc sâu nhất trong đầu ta lại là Triệu Phương Như do cô hóa thành, cô nương A Hằng, chính cô đã cho ta rất nhiều dũng khí.”
Nói rồi, Tạ Triều Yến hít sâu một hơi, uống cạn bát canh nóng, trong mắt nàng ánh lệ long lanh: “Cô nói đúng, dương gian thật quái lạ, nhưng ít nhất bây giờ ta đã không còn ở trong chiếc lồng chật hẹp ấy nữa, ta sao có thể vì tất cả những điều kia quá quái lạ, quá hà khắc mà trốn tránh mãi được? Ta đã trốn tránh rất lâu rồi, nhưng trốn tránh là vô ích, ít nhất ta đã từng chết, ta biết rằng, vận mệnh của mình kỳ thực ngay cả trời cao cũng không thể thao túng, từ đầu đến cuối điều khiển ta chính là con người, là những quy củ do con người đặt ra, là những xiềng xích do con người ban cho.”
Nàng nói: “Từ nay về sau, dù ta trở thành bất cứ ai, dù có khó khăn, khổ sở đến mấy, ta cũng không muốn làm món lễ vật bị cha đem biếu tặng, cũng không muốn làm kẻ phụ thuộc bị đàn ông giam cầm, mặc cho người khác nhìn ta thế nào, ta cũng sẽ sống vì chính mình.”
Âm sai đã chờ sẵn ở đầu cầu, đối với những hồn quỷ cả đời hành thiện như nàng, họ không cần dùng đến xiềng xích nào cả, ai nấy đều hòa nhã đứng phía dưới, kiên nhẫn đợi nàng theo họ đi vào luân hồi.
Tạ Triều Yến nhìn xuống dưới cầu, trong lồng ngực nàng dâng lên một nỗi mong chờ mãnh liệt, mong chờ một lần tái sinh nữa, nàng bước xuống cầu vài bước, rồi bỗng quay đầu lại, nụ cười rạng rỡ: “Cô nương A Hằng, ta tin rằng sẽ có một ngày, dương gian không còn quái lạ như thế nữa, ta sẽ luôn chờ đợi, dù phải trải qua bao nhiêu lần sinh tử, ta tin nhất định sẽ có ngày như vậy.”
“Cảm ơn cô, đến cuối cùng vẫn còn được gặp lại cô một lần, ta rất vui.”
Gió lạnh trên cầu từng cơn thổi tới, nơi cực như thế này, là nơi tuyệt đối không có dương hỏa soi tới, A Hằng đứng giữa cầu, đối điện với nàng, nói: “Cách nhìn của cô về yêu quái không sai, ta từng thật sự nghĩ đến chuyện giết cô, cho nên, cô không cần phải xin lỗi ta, cũng không cần phải cảm ơn ta điều gì.”
“Cô cũng đã nói rồi, đó là chuyện của trước kia.”
Tạ Triều Yến vẫn giữ nguyên nụ cười: “Chính cô đã khiến ta tin rằng, yêu quái và con người kỳ thực cũng không khác nhau bao nhiêu, cũng có tốt có xấu, chúng ta đều có những khốn cảnh của riêng mình, cũng đều cần đến cùng một loại dũng cảm.”
Giờ lành đầu thai đã gần kề, Nghiêu Vũ nhắc một tiếng, Tạ Triều Yến cúi người tạ lễ, rồi theo âm sai dưới cầu rời đi, bóng lưng nàng thẳng tắp, bước chân nhẹ nhàng.
Nàng dường như thật sự rất vui.
“Con người đều thích tự chuốc lấy khổ sao? Vì sao…” trong mắt A Hằng lộ ra vẻ mờ mịt, rõ ràng biết dương gian quái lạ như vậy, vậy mà vẫn nghĩa vô phản cố* đón nhận một lần sinh ra mới?
(*) Nghĩa vô phản cố là một câu thành ngữ Hán Việt chỉ việc dù biết rõ khó khăn, nguy hiểm, thậm chí không thể làm được nhưng vẫn một lòng, không hề do dự, dốc hết sức theo đuổi đến cùng.
“Con người không phải thích tự chuốc lấy khổ, mà là ngây thơ tin rằng cho dù mình chỉ là một hạt bụi, cũng sẽ gặp được rất nhiều hạt bụi giống mình, tích bụi thành đất, khiến gỗ mục cũng có thể nảy mầm.”
Giọng Nghiêu Vũ vang lên bên tai.
A Hằng nhìn vào ánh mắt dịu dàng của nàng, Nghiêu Vũ mỉm cười, lại nói: “Chính vì sự ngây thơ ấy, con người mới có thể trường tồn.”
A Hằng không nói gì, nhưng lần đầu tiên cảm thấy, dường như mình đã xem nhẹ con người.
Họ rõ ràng không có sức mạnh bẩm sinh như yêu tà, trong dương thế mênh mông ấy tựa như từng con kiến nhỏ bé, nhưng A Hằng chợt nhớ ra, những vị thần tiên nơi thượng giới ngày nay, dường như cũng đều là con người hóa thành.
Xưa nay chưa từng có vị thần nào sinh ra đã là thần.
“Ta nói chuyện với nàng ấy một lát.”
Mạnh bà thu dọn bát canh, nói với Nghiêu Vũ.
Nghiêu Vũ gật đầu, lại nhìn sang A Hằng, nhẹ nhàng vỗ vai nàng, nói: “Đi đi.”
“Giúp ta mang đồ theo.”
Mạnh bà đem bát canh, muôi thìa đều bỏ vào thùng, nói với A Hằng.
A Hằng ngẩng cằm đứng yên tại chỗ không động, Mạnh bà nâng mí mắt chảy xệ của bà, nở nụ cười: “Hai gốc chấp đã tiêu tán rồi, ngươi làm rất tốt, chẳng lẽ không muốn tới nhận phần thưởng mà ngươi đáng được sao?”
A Hằng nghe vậy, lập tức xách thùng gỗ lên, theo sau Mạnh bà, đến bờ đối diện, lại chui vào khu rừng hoa rợp bóng kia, A Hằng lại nhìn thấy chiếc bàn ấy, trên đó bày vô số bình lưu ly, bên trong thấp thoáng những đốm lửa nhảy múa.
A Hằng đặt thùng gỗ xuống, thấy Mạnh bà đi tới bên bàn, nghe bà thở dài: “Hôm nay lại nhiều gốc chấp như vậy… trên đời rốt cuộc có bao nhiêu người mê muội không tỉnh đây.”
“Chuyện bà đã hứa với ta thì sao?”
A Hằng bước lên trước, hỏi thẳng.
Mạnh bà không biết từ đâu lấy ra một chiếc cuốc nhỏ, bắt đầu đào hố đất: “Bà già này nghĩ xem nào, ngươi nói là phương pháp thuần phục Vạn Mộc Xuân?”
A Hằng ngồi xổm xuống, ghé sát lại bà: “Mau nói đi, rốt cuộc là cách gì?”
Mạnh bà chôn một bình lưu ly xuống đất, dùng tay nắm bùn đất từng chút một lấp nó lại: “Vạn Mộc Xuân là thứ không thể thuần phục.”
A Hằng nhíu mày, lạnh giọng nói: “Bà đùa giỡn ta?”
“Tiểu cô nương này, sao lại nóng nảy như thế?” Mạnh bà dùng bàn tay dính đầy bùn gõ lên trán nàng một cái.
Trán A Hằng lập tức dính bùn, nàng để lộ cơn giận trên mặt, các khớp ngón tay siết chặt kêu răng rắc, trong lòng đang tính xem làm thế nào để thiêu rụi cả khu rừng hoa này, thì nghe Mạnh bà nói: “Nó vốn là đồ của Triều Lộ.”
“Ta mặc kệ nó vốn là của ai, đã rơi vào tay ta, thì chỉ có thể là của ta.” A Hằng nói.
Mạnh bà cười cười: “Ý ta là, ngươi không thể lúc nào cũng nghĩ đến chuyện thuần phục nó, nó có linh tính của riêng mình, ngươi phải cảm nhận nó.”
“Cảm nhận thế nào?”
A Hằng nghe mà mù mờ.
“Việc duy nhất ngươi có thể làm, chính là làm theo lòng mình.”
Mạnh bà chôn xong một bình lưu ly, lại cầm cuốc nhỏ đào hố khác.
A Hằng càng lúc càng cảm thấy bà căn bản là đang trêu đùa nàng: “Ta còn chẳng có tim, lấy đâu ra theo lòng?”
Mạnh bà liếc nhìn đám mây đỏ đang cháy nơi đầu ngón tay nàng, đám mây đỏ ấy lập tức tan biết không dấu vết, A Hằng sững sờ, lão bà này lại có thể dễ dàng dập tắt…
“Ai nói ngươi không có tim?”
Ánh mắt Mạnh bà dừng lại trên gương mặt nàng, nhìn vết bùn còn sót lại nơi giữa mày, Mạnh bà lại mỉm cười: “Tim chỉ là hình thể, ai nói vô hình thì chính là vô tâm? A Hằng, ý ta là ngươi cứ thuận theo ý nguyện của chính mình là được, rồi sẽ có một ngày, nếu ngươi và Vạn Mộc Xuân tâm ý tương thông, nó tự nhiên sẽ trở thành tạo hóa của ngươi, còn nếu không thể… thì đó cũng là nhân quả của ngươi.”
Sắc mặt Mạnh bà trước sau vẫn hiền hòa: “Nhưng ta cũng giống như Triều Lộ, rất có lòng tin ở ngươi.”
A Hằng sững người một chút.
“Suýt nữa thì quên,” Mạnh bà như chợt nhớ ra điều gì, vội nói với A Hằng, “ngươi tốt nhất nên giao mồi lửa trong cơ thể mình ra.”
A Hằng nghe vậy, lập tức nói: “Ta mới không…”
“Nếu ngươi muốn cứu Trình Tịnh Trúc.”
Mạnh bà ung dung bổ sung một câu.
Lời A Hằng còn chưa dứt thì đã nghẹn lại.
Mạnh bà bấm tay tính toán: “Ôi chao, hắn bị thương rất nặng, ngay cả kim thân cũng bị phá rồi, vừa hay chỗ ta có một vị thuốc, có thể giúp hắn bớt đau khổ, mau chóng hồi phục.’
A Hằng trừng mắt nhìn bà.
“Nghe ta khuyên một câu, mồi lửa đối với ngươi chẳng có bao nhiêu lợi ích, những kẻ bị nó mê hoặc, đều không có kết cục tốt.” Mạnh bà nói.
“Ta đâu phải con người, chỉ có ta lợi dụng nó thôi.”
A Hằng khẽ nâng cằm.
“Ngươi có thể bảo đảm mình vĩnh viễn giữ được tâm trí tỉnh táo không?” Mạnh bà nhìn nàng chăm chú, “Chỉ cần ngươi có một khoảnh khắc bị những tiếng nói ấy dụ dỗ, đợi đến khi ngươi tỉnh lại, những thứ ngươi yêu thích, những người ngươi quan tâm, tất cả đều đã bị chính tay ngươi hủy diệt… như vậy, ngươi cũng khôg bận tâm sao? Ngươi dám cược không?”
Cược sao? Cược cái gì?
Thần quang trong mắt A Hằng khẽ lay động, nàng vậy mà có chút do dự, trong khoảnh khắc mơ hồ ấy, nàng lại nhớ tới đám mây đen sấm sét kia, gió cuốn chặt tay chân nàng, lôi điện cuồng bạo đè xuống, có người đã ôm nàng vào lòng.
Không tiếc thân mình gánh lấy vạn khoảnh lôi đình.
Người đó có trái tim nàng yêu thích nhất, có máu khiến nàng mê luyến nhất.
Còn mồi lửa… mồi lửa thì quá ồn ào, lúc nào cũng líu lo muốn khống chế nàng, chỉ cần nàng không bị nó điều khiển, sức mạnh của nó vĩnh viễn không thể thật sự dung hợp với nàng, nghĩ cho cùng, vẫn chẳng bằng tự nàng tu hành tốt.
Một lúc lâu sau, A Hằng mặt mày cau có, miễn cưỡng bật ra một câu: “Rốt cuộc bà có thuốc gì?”
Mạnh bà cười: “Ngươi hái một cành hoa mang về, người ở điện Dược Vương sẽ biết dùng thế nào.”
A Hằng xoay người dứt khoát bẻ một cành hoa gần đó, rồi đi về phía sâu trong bóng hoa, giọng Mạnh bà từ phía sau vọng lại: “Nhớ giao mồi lửa ra đấy, đây là một giao dịch khác giữa ta và ngươi.”
“Ta biết rồi, bà thật phiền chết đi được!”
A Hằng không quay đầu lại.
Băng qua bóng hoa, trước mắt nàng bỗng trào lên một mảng ánh sáng xanh u lam, nàng bước vào quần sáng ấy, rất nhanh lièn thấy mình đứng trong một hang núi tối đen.
Bên ngoài gió rít từng hồi.
“A Hằng! A Hằng cô ở đâu?’
Nàng chợt nghe thấy giọng nói của Lâm Nương, không ngừng gọi tên nàng, từ xa đến gần, A Hằng thò đầu ra khỏi hang: “Này.”
Gió lay liễu rủ, dải tơ tung bay.
Lâm Nương nghe tiếng liền quay đầu lại, nhờ ánh trăng mờ mờ, nàng lờ mờ trông thấy A Hằng bước ra từ hang núi, nàng lập tức chạy tới, ôm lấy cánh tay A Hằng: “Sao cô lại trốn ở đây? Dọa chết ta rồi, ta tìm cô khắp nơi mà không thấy…”
Đi tới chỗ trăng sáng hơn, Lâm Nương chú ý tới sắc mặt A Hằng, không khỏi nhẹ giọng hỏi: “Cô làm sao vậy?”
Nàng cảm thấy A Hằng dường như rất không vui.
A Hằng tháo chiếc trâm gỗ trên tóc xuống, nàng luôn cảm thấy mình đã bị Mạnh bà lừa, nào là theo lòng, nào là tâm ý tương thông, thứ này thì có linh tính gì chứ? Nếu đã có linh tính, vì sao lúc nào cũng khiến nàng dùng không được thoải mái?
A Hằng siết chặt nó trong tay, nhưng lại nắm vào khoảnh không, nàng cúi mắt nhìn chỉ thấy những điểm sáng vàng nhạt lấp lánh quấn quanh đầu ngón tay nàng, nàng sững lại một thoáng, sau đó đầu ngón tay bùng lên mây đỏ, ánh vàng kia lập tức như sét đánh tan chảy trong đám mây đỏ đang nhảy múa, A Hằng nhất thời ý động, đẩy chưởng ra, mây đỏ quấn lấy từng tia kim điện trong chớp mắt quật ngã một mảng cỏ cây.
Lâm Nương giật mình: “A Hằng, cái này…”
A Hằng ngẩn ngơ nhìn bàn tay mình, Vạn Mộc Xuân… vậy mà thật sự chịu thuận theo ý nàng, dung hợp biến hóa cùng sức mạnh của nàng?
“Lâm Nương, đi!”
A Hằng một tay nắm lấy tay Lâm Nương.
Lâm Nương còn chưa kịp hiểu vì sao sắc mặt A Hằng đột nhiên như mây tan trời sáng, đã bị nàng kéo đi về phía trước, Lâm Nương mơ hồ hỏi: “Ê, đi đâu vậy?”
“Tích Ngọc đang sắc thuốc cho tiểu thần tiên phải không?”
A Hằng hỏi nàng.
Lâm Nương gật đầu: “Phải đó, bọn ta tìm rất lâu mới tìm được loại thảo dược ấy…”
“Vậy thì chúng ta phải nhanh lên.”
A Hằng cầm cành hoa phấn trắng, kéo Lâm Nương chạy như bay.
Cành hoa Mạnh bà cho quả nhiên là một vị thuốc quý, Tích Ngọc vừa nhìn thấy cành hoa liền lập tức cho vào thang thuốc, bưng đi cho Trình Tịnh Trúc uống.
Tạ Đạm Vân bị cắt lưỡi, Dương Quân vẫn luôn chữa trị cho nàng, đối với cả Tạ Đạm Vân lẫn Trình Tịnh Trúc, Đàn viên đầy yêu khí này tuyệt đối không phải nơi nên ở lâu, vì thế trời vừa tờ mờ sáng, Dương Quân đã dẫn mọi người rời khỏi Đàn viên.
Ra khỏi cổng Đàn viên, đi được vài bước, A Hằng quay đầu nhìn lại, chỉ thấy dưới bầu trời xám xịt, tòa Đàn viên cổ kính xinh đẹp kia dần chìm trong làn sương trắng dày đặc, dây leo chằng chịt, màu sơn loang lổ, một mảnh tiêu điều héo úa.
Dương Quân đích thân đưa Tạ Đạm vân về phủ Tạ, còn A Hằng và những người khác thì ở lại trong khách điếm, suốt cả ngày A Hằng đều ở trong phòng, không đi thăm Trình Tịnh Trúc, Lâm Nương cảm thấy kỳ lạ, nhưng thấy A Hằng nằm sấp bên bàn không nhúc nhích, nàng cũng không dám hỏi nhiều, chần chừ một lúc, nàng mới đi tới: “A Hằng, đèn đêm trong thành rất đẹp, chúng ta ra ngoài xem nhé?”
A Hằng không đáp lời, trong lòng Lâm Nương không khỏi thấy bất an, nhưng ngay sau đó lại thấy A Hằng bỗng đứng dậy đẩy cửa bước ra ngoài, Lâm Nương kịp phản ứng liền vội vàng theo sau.
Nói là đi xem đèn, hai người thật sự ngồi trên mái nhà cúi nhìn xuống phố xá nơi những chiếc đèn lồng đủ sắc màu quấn quanh từng vòng từng vòng, Lâm Nương thò tay vào túi vải lấy ra hai miếng bánh: “Tuy Đàn lang là hồ yêu, nhưng đồ ăn chỗ hắn thật sự rất ngon, ban đầu ta mang về cho cô nhiều lắm, đều tại lúc gấp quá ta ném hết đi đập hồ ly rồi, chỉ còn lại hai cái này thôi…”
A Hằng liếc nhìn bánh trong tay nàng, rõ ràng đã vỡ nát, vậy mà Lâm Nương lại ghép chúng lại, ghép trông như vầng trăng tròn trịa, A Hằng chống cằm hỏi: “Ngon vậy sao cô không tự ăn?”
“Cô thích ăn mấy thứ này mà, ta muốn để dành cho cô, đợi đến khi cô nếm được mùi vị, là có thể lập tức ăn được đồ ngon.” Lâm Nương nói.
A Hằng nghe vậy, nhìn nàng một cái.
Nàng lấy từ tay Lâm Nương một miếng bánh vỡ: “Cái còn lại cô ăn đi.”
Lâm Nương cười, nhón lấy một mảnh bánh vỡ, lại dịch sang ngồi gần A Hằng hơn một chút, nàng lấy hết can đảm hỏi: “Rốt cuộc là vì sao cô không vui vậy?”
“Ta không có không vui.” A Hằng nói.
“Rõ ràng là có mà,” Lâm Nương bĩu môi, “cô không chịu thừa nhận thì thôi, nhưng cô nói đi, vì sao cô không tới thăm Trình công tử? Hắn bị thương nặng như vậy, rõ ràng cô quan tâm hắn mà?”
“Quan tâm?”
A Hằng bóp miếng bánh: “Quan tâm là gì?”
“Quân tâm là hôm nay cô hỏi ta tới tám lần xem Trình công tử đã tỉnh chưa,” Lâm Nương vừa ăn bánh vừa nói, “nhưng vậy thì vì sao cô không đi gặp hắn?”
A Hằng thật ra cũng không nói rõ được.
Nàng rõ ràng khao khát có được trái tim của hắn đến vậy, bao ngày bao đêm mong nhớ như vậy, nàng đã chờ đợi khoảnh khắc kim thân của hắn vỡ nát biết bao.”
Tay nàng rõ ràng đã chạm vào làn da hắn, chỉ cần hơi dùng lực, nàng liền có thể đạt được điều mình muốn, nhưng vì sao đến cuối cùng nàng lại… không xuống tay được?
Đều tại hắn.
Khiến nàng rối bời như thế, đều tại hắn.
Nàng mới không muốn đi gặp hắn.
A Hằng tức giận cắn một miếng bánh, nhưng bỗng khựng lại, nàng cúi đầu, thấy phần nhân đỏ đỏ bên trong giống như đường nâu mà nàng từng nếm trước đây, nhưng lúc này lưỡi nàng lại không cảm nhận được chút mùi vị nào.
Lâm Nương hoàn toàn không hay biết, tự mình ăn đến vụn bánh dính đầy mép, thấy A Hằng ăn rồi, nàng nghiêng đầu hỏi: “Ngon không?”
A Hằng cắn miếng bánh chẳng có chút hương vị nào, đôi mắt đỏ sẫm nhìn thẳng vào Lâm Nương, môi lưỡi tê dại, nàng mở miệng, lại nói: “Ngon.”
Ánh mắt nàng lại vô thức vượt qua Lâm Nương, nhìn về phía sau Lâm Nương, về tận cùng mái nhà của khách điếm, đèn lụa đủ màu tô điểm cho phố xá, trên đường người qua kẻ lại đông đúc, tiếng rao hàng của các quầy ven đường nối tiếp không dứt, lưỡi A Hằng không nếm ra được vị của bánh đường nâu, nhưng mũi nàng lại mơ hồ ngửi thấy mùi thơm của đủ loại thức ăn từ phố chợ truyền tới.
Nàng biết, năm giác quan mà thân xác Lâm Nương từng mang lại cho nàng đang dần biến mất, bắt đầu từ vị giác.
Có lẽ rất nhanh thôi, mũi nàng cũng sẽ không còn ngửi được mùi thơm của đồ ăn nữa.
Có lẽ, mắt nàng cũng sẽ không còn nhìn thấy từng sắc màu của đèn lồng đêm nay, mọi thứ sẽ lại trở về như trước kia, trong thế giới của nàng chỉ còn màu đen như nước sống Hắc Thủy, màu trắng như tuyết đọng.
Các khớp ngón tay A Hằng đột nhiên co lại, chiếc bánh đường nâu trong lòng bàn tay nàng vỡ vụn thành bã.
Nàng vẫn cần một trái tim.
Một trái tim của con người.
Lúc này, trong sân khách điếm có người từ phía hành lang bước tới, hắn đi xuyên qua tầng tầng ánh đèn, bóng dáng dần rõ ràng hơn, A Hằng là người đầu tiên ngửi thấy thanh khí trên người hắn.
Đó là Tích Ngọc.
Đôi mắt đỏ sẫm của A Hằng khóa chặt lấy hắn.
Khám phá thêm từ VIVIAN THÍCH ĂN DÂU TÂY
Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.

