Hóa Thần – Chương 58

Hóa Thần – Chương 58

Tác giả: Sơn Chi Tử

Ánh sáng trắng nơi chân trời dần lóe lên, Tích Ngọc tới gõ cửa thúc giục lên đường, cửa phúc vừa mở ra, hắn thấy Lâm Nương mặt mày xanh xao từ trong đi ra, gương mặt vốn đã trắng bệch, lúc này càng tái nhợt hơn, trông như hơi thở mong manh, quỷ khí lởn vởn quanh mình, khiến Tích Ngọc hoảng sợ: “Sao cô trông như bị hút cạn sạch thanh khí vậy?”

“…”

Lâm Nương giật giật khóe môi, nụ cười còn khó coi hơn cả khóc.

Tích Ngọc còn đang lấy làm lạ vì sao nàng chẳng nói lời nào, thì lại thấy A Hằng lững thững bước ra phía sau, dáng vẻ cũng uể oải không kém, tóc còn chưa chải, chỉ dùng một sợi dây tơ buộc qua loa.

“Chẳng lẽ tối qua có thứ quỷ quái nào đến?”

Tích Ngọc kinh ngạc: “Không đúng, sao ta chẳng nghe thấy động tĩnh gì cả…”

“Đầu óc ngu ngơ.”

A Hằng nâng mí mắt nhìn thẳng hắn, chậm rãi nói.

Lâm Nương không ngờ A Hằng khổ học nửa đêm, nhanh như vậy đã biết vận dụng ngay, thấy mày Tích Ngọc có xu hướng bốc hỏa, Lâm Nương vội vàng đẩy hắn ra: “Ngươi đi trước đi, ta với A Hằng xuống ngay!”

“Sao sáng sớm nàng ta đã mắng ta rồi?”

Tích Ngọc chất vấn.

“… Nàng, nàng nói bừa thôi, ngươi đâu phải không biết nàng là một con yêu quái mù chữ! Nàng sao hiểu mấy thứ đó được, đừng giận, mau đi mau đi!”

Lâm Nương dùng sức đẩy hắn.

Tích Ngọc nghĩ chút, cũng phải, A Hằng đến chữ còn chẳng nhận ra được mấy cái, biết được gì chứ?

Hắn vừa xuống lầu, vừa nói: “Các cô nhanh lên! Tiểu sư thúc đã ở dưới uống hết một bát trà rồi!”

Lâm Nương thở phào một hơi, quay đầu thấy A Hằng tựa bên cửa phúc, cười như không cười: “Yêu quái mù chữ?”

“…” Lâm Nương có chút chột dạ, không đáp, kéo A Hằng chui trở lại phòng, ấn nàng ngồi xuống, rồi lấy lược gỗ ra chải tóc cho nàng, “Sao cô cứ nhìn Tích Ngọc không vừa mắt vậy?”

“Ta lẽ nào bắt buộc phải nhìn hắn cho vừa mắt sao?”

A Hằng nói.

“… Vậy thì cũng không cần.”

Tay Lâm Nương thoăn thoắt, chải tóc cho nàng: “Nhưng A Hằng à, tối qua ta cũng nói rồi, trước kia là Liễu lang dạy ta biết chữ, ta cũng chẳng đọc mấy quyển sách đàng hoàng, chỉ biết mấy thứ thoại bản tầm thường thôi, ta nửa mùa thế này, thật sự chẳng dạy được cô bao nhiêu.”

Học vấn của Lâm Nương vốn chẳng bao nhiêu, dạy A Hằng đã là vắt kiệt đầu óc, hơn nữa A Hằng lại chẳng phải học trò ngoan, Lâm Nương dạy suốt nửa đêm, quả thực tinh thần và thể xác đều mệt mỏi.

“Thoại bản tầm thường là gì?”

“Thì… mấy chuyện tài tử giai nhân ấy mà, trước kia ta rất thích đọc những thứ đó, theo lý mà nói, chúng ta là di dân tiền triều, sinh sôi mấy đời ở Xích Nhung, bên ngoài thế giới đổi thay hết lần này đến lần khác, triều đại thay đổi liên hồi, vậy mà mấy trò tài tử giai nhân này vẫn cứ nhìn mãi quen mắt,” Lâm Nương nhanh tay búi tóc cho nàng xong, cài trâm Vạn Mộc Xuân lên, “từ sau chuyện của tiểu thư Đạm Vân và tiểu thư Triều Yến, ta liền thấy mấy thứ đó chán ghét vô cùng, dù là trong thoại bản, hay trong thế đạo này, luôn có những nam nhân tự cho mình tài cao, họ có thể giàu, có thể nghèo, họ là tài tử hiếm có, còn giai nhân vĩnh viễn chỉ là chiến lợi phẩm của họ, là thang mây cho họ leo lên, là phụ thuộc của họ, giai nhân vì họ đến chết không thay lòng, vì họ trung trinh như một, trong thoại bản ít ra còn là chuyện của một đôi nam nữ, chứ thế đạo này còn ghê tởm hơn thoại bản, bao nhiêu đàn ông cưới được vợ rồi còn muốn thiếp, lại còn muốn vợ thiếp thân như tỷ muội, muốn tất cả những nữ nhân ấy đều xoay quanh mình, trông cậy vào hắn mà sống… Ta về sau không bao giờ xem mấy thứ đó nữa.”

“Liễu lang của cô không như vậy?”

A Hằng cố ý hỏi.

“Dĩ nhiên là không!”

Lâm Nương vội nói: “Liễu lang từ nhỏ đã lớn lên cùng ta, chàng biết tâm ý của ta, ta cũng biết tâm ý của chàng, chàng là người, ngoài cha mẹ ta ra, đối xử với ta tốt nhất, chàng…”

Lâm Nương mím môi, cất lược gỗ vào lòng, nói: “Chàng có một trái tim thuần thiện, là người đáng để ta trân trọng suốt đời.”

Lâm Nương chải tóc cho A Hằng xong, tự mình cũng vội vàng sửa soạn lại, hai người  cùng nhau xuống lầu, đại sảnh khách trọ rất vắng, A Hằng liếc mắt liền thấy thiếu niên áo đen đứng ngoài cửa lớn quán trọ.

Ngoài cửa lớn tuyết rơi dày như lông ngỗng, tiểu nhị trong quán trọ đang cầm chổi quét lớp tuyết tích cả đêm trên bậc thềm, trời xám xịt, nơi người qua lại, khí lạnh như tơ quấn quanh.

“Tiểu sư thúc, họ tới rồi.”

Tích Ngọc vừa thấy hai người họ, liền nói với người bên cạnh.

Trình Tịnh Trúc quay đầu lại, chạm phải ánh nhìn của A Hằng.

A Hằng gần như theo bản năng nở nụ cười, nhưng hắn chỉ liếc nàng nhạt nhẽo một cái, rồi xoay người bước xuống bậc thềm.

Nụ cười trên mặt A Hằng lập tức sụp xuống, bĩu môi.

Lâm Tam kéo A Hằng đi ra ngoài, theo kịp họ, tuyết dày trong phố chợ còn chưa quét  sạch, mấy người giẫm tuyết mà đi, nơi chân trời xám xịt bỗng vang lên một âm thanh khẽ động. 

Tích cực nhạy bén ngẩng đầu, lập tức xác định phương hướng, hai tay kết ấn, một lá bùa chú vàng rực hiện ra, Tích Ngọc nắm lấy lá bùa ấy, trong khoảnh khắc bóp nát thành từng sợi sáng vàng.

A Hằng thấy hắn hơi nghiêng tai, dường như nghe được điều gì đó, ngay sau đó, hắn lập tức bước tới trước mặt Trình Tịnh Trúc, nói: “Tiểu sư thúc, sư phụ truyền tin, nói triều đình Đông Viêm gần đây có ý chủ trương tây chinh nước Ô Thước, qua điện Tương Vi của cung Tử Tiêu Thượng Thanh ta tra xét, trong quân đội Đông Viêm Quốc rất có thể đã lẫn vào yêu vật!”

Mày Trình Tịnh Trúc khẽ nhíu.

A Hằng thấy hai người họ đều mang vẻ mặt nghiêm trọng, liền hỏi: “Trong quân có yêu vật trà trộn, thì có gì ghê gớm lắm sao? Bao nhiêu tăng đạo huyền môn đều ăn không ngồi rồi à?”

A Hằng đến nay vẫn chưa từng chứng kiến chiến tranh của loài người, cái cảnh ngươi chết ta sống, chém giết máu chảy thành sông ấy, nghĩ đến thôi cũng đủ khiến nàng hưng phấn.

Tích Ngọc quay đầu lại: “Hiện nay yêu nghiệt hoành hành khắp thế gian, nếu để yêu nghiệt dễ dàng thao túng chiến tranh của loài người, thì nhân gian này cũng không còn xứng gọi là nhân gian nữa, vì vậy trên trời mới có vị thần sát phạt tọa trấn Thất Sát Tinh, lấy thần lực vô thượng che chở nhân gian, khiến yêu nghiệt khó mà tiến vào quân đội của các nước nơi nhân gian.”

“Thần sát phạt…” A Hằng nhớ tới ngày đó trên Vạn Diễm Sơn, màn lấy khí đế vương giết đế vương của Nghiêu Vũ, nghĩ ra hẳn cũng là mượn sức vị thần này, “đã có chiến thần trên trời, vậy điện Tương Vi của cung Tử Tiêu Thượng Thanh các ngươi dựa vào đâu mà đoán ra trong quân Đông Viêm đã lẫn vào… đồng loại của ta?”

“Đó không phải đồng loại của cô.”

Trình Tịnh Trúc nhìn nàng: “Người và yêu trên thế gian này đều không thoát khỏi pháp nhãn của thượng giới, nhưng điều đó không có nghĩa là không còn con đường nào khác.”

Tích Ngọc chợt bừng tỉnh: “Tiểu sư thúc, ý người là… người Thiên Y?”

A Hằng lại nghe thấy ba chữ này, thân hình khẽ khựng lại, đối diện ánh mắt của Trình Tịnh Trúc.

“Đúng vậy! Nếu là người Thiên Y đứng sau giở trò thì mọi thứ đều hợp lý,” Tích Ngọc siết chặt nắm tay, “nói đến thì, kỹ nghệ đúc tạo pháp bảo của cung Tử Tiêu Thượng Thanh chúng ta hiện nay cũng là do các bậc tiền bối kiệt xuất của Lập Sơn nghiên cứu kỹ điển tịch pháp bảo do người Thiên Y để lại mà ngộ ra, người Thiên Y tuy bề ngoài giống người thường, cũng là thân xác máu thịt, nhưng họ mới là tổ sư của việc đúc pháp bảo, thậm chí ngay cả quy luật sinh tử luân hồi họ cũng có thể né tránh… nếu họ dùng thủ đoạn phi thường, chưa chắc đã không thể giấu trời qua biển, khiến yêu nghiệt ẩn nấp trong quân đội!”

“Ý gì? Thế nào là ngay cả quy luật sinh tử luân hồi cũng có thể né tránh?”

Lâm Nương vội hỏi.

Tích Ngọc thấy Trình Tịnh Trúc rút pháp thừng, nhảy vọt lên không trung, liền lập tức triệu hóa kiếm vàng, dẫn Lâm Nương và A Hằng bay vào giữa gió tuyết, bên tai gió rít dữ dội, Tích Ngọc vừa duy trì thủ ấn điều khiển kiếm vàng, vừa trả lời Lâm Nương: “Người Thiên Y tuy là thân xác máu thịt, nhưng sau khi chết họ lại không vào luân hồi, họ có cách tránh khỏi luân hồi, thậm chí còn có thể khởi tử hồi sinh.”

“Thông mịn thật đấy.”

A Hằng nói.

Tích Ngọc hừ lạnh một tiếng: “Chút thông minh của tà môn ma đạo thì có ích gì? Bọn họ đều là một đám quái vật thần thần bí bí, trong lòng chỉ nghĩ đến việc khôi phục vinh quang năm xưa của Thiên Y thần tộc, chẳng có chút từ bi nào, chỉ có tôn ti.”

“Vậy bọn họ sai khiến yêu nghiệt ẩn trong quân đội để làm gì?”

Lâm Nương khó hiểu.

“Chỉ cần trong quân có yêu vật quấy phá, là có thể dễ dàng khơi mào chiến hỏa.”

Trong gió, Trình Tịnh Trúc nắm chặt pháp thừng, tuyết lạnh lướt qua mai tóc hắn, hắn rũ mắt, chỉ thấy dưới mây dày, phía xa thấp thoáng hiện ra sóng nước của sông Phong: “Người Thiên Y muốn khuấy đảo toàn bộ nhân gian, khiến yêu và người đối địch, người và người chém giết, để thần vì thế mà trong ngoài đều rối loạn, chỉ cần thiên hạ đại loạn, thì sẽ có cơ hội cho bọn họ phục hưng.”

Sông Phong đã gần, Tích Ngọc cúi đầu liền thấy dòng sông uốn khúc chín vòng, khí thế hùng vĩ, cuồn cuộn không dứt, không khỏi nói: “Sông Phong là thiên hào giữa Ung Ninh Quốc và Đông Viêm Quốc, chính vì thiên hào khó vượt này mà Ung Ninh và Đông Viêm bao năm qua hiếm khi xảy ra chiến sự, dù sao sông Phong nước xiết, người thường muốn vượt qua đã cực kỳ hung hiểm, nếu là thuyền chiến của quân đội mạo hiểm vượt sông, e rằng hai quân chưa giao chiến đã tổn thất binh lực trong dòng sông Phong mênh mông này, đúng là được chẳng bù mất, nhưng nếu mượn sức yêu vật, thì thiên hào này chẳng tính là gì, Ung Ninh và Đông Viêm mà nổi lên chiến hỏa, khổ nhất vẫn là bách tính…”

“Cho nên, chúng ta phải sớm tới Kỳ Sơn để bái kiến vị Huệ Sơn nguyên quân kia.”

Trình Tịnh Trúc nói. 

A Hằng suy nghĩ một chút, liền hiểu ra: “Xem ra vị Huệ Sơn nguyên quân kia chính là Thất Sát Tinh, nhưng mà, các huynh chẳng phải nói người Thiên Y không sợ sức mạnh tinh tú, tự có cách khiến yêu vật ẩn trong quân đội, giờ tìm vị nguyên quân kia còn có tác dụng gì?”

“Chúng ta vẫn chưa rõ tình hình của Huệ Sơn nguyên quân hàng yêu ở Kỳ Sơn ra sao, chúng ta phải tìm được nguyên quân, tra rõ việc yêu vật xuất hiện trong quân đội rốt cuộc là do người Thiên Y dùng thủ đoạn đặc biệt, hay là nguyên quân ở Kỳ Sơn gặp phải biến cố gì, khiến sức mạnh tinh tú suy yếu, không thể dùng uy áp để trấn thế.”

Trình Tịnh Trúc nói tiếp: “Người Thiên Y xưa nay chỉ khi tự tin mười phần mới để lộ chút tướng mạo thực sự, nếu trong quân Đông Viêm đã xuất hiện yêu vật, vậy quân đội các nước khác e rằng cũng đã bị yêu vật quấy nhiễu, vì thế chuyến đi này không thể chậm trễ.”

A Hằng hiểu ra, tiểu thần tiên là lo lắng yêu họa ở Kỳ Sơn có lẽ cũng là dấu vết của người Thiên Y, nàng hóa thành từng sợi sương đỏ bay tới bên cạnh hắn, giọng nói gần như kề sát bên tai hắn: “Tiểu thần tiên, huynh dường như rất hiểu người Thiên Y.”

Không biết có phải gió lạnh trên tầng mây hay không, A Hằng thấy hàng mi dày của hắn khẽ run lên, sau đó, đôi mắt trong suốt lạnh lẽo ấy nhìn sang: “Nhưng ta không phải người hiểu rõ họ nhất.”

Sương đỏ khựng lại.

Ý gì?

Phía sau Lâm Nương không nghe rõ hai người họ nói gì, nàng ở trên mây, thấy sông Phong phía dưới càng lúc càng gần, khí thế vạn phần, không khỏi nói: “Sông Phong này thật hùng vĩ, xa xa không phải sông Hắc Thủy ở Xích Nhung có thể so được, quả nhiên không hổ là thiên hào kỳ hiểm do tạo hóa đất trời sinh ra…”

Mũi Tích Ngọc bị gió thổi đến đau rát, không nhịn được hắt xì một cái lớn, nghe Lâm Nương bên cạnh nói, hắn liền đáp: “Ta lại nghe nói, sông Phong cũng không phải do tự nhiên đất trời tạo thành, tương truyền ngàn năm trước, sông Phong chưa hùng vĩ như bây giờ, khi ấy Ung Ninh Quốc và Đông Viêm Quốc thường xuyên xung đột, chiến hỏa không dứt, so với Ung Ninh binh hùng tướng mạnh, Đông Viêm lúc đó còn rất yếu, Đông Viêm tuy yếu, nhưng không chịu vì yếu mà khuất phục, thế nhưng hoàng đế Ung Ninh dã tâm quá lớn, dù Đông Viêm dốc sức cả nước để chống đỡ, cũng khó tránh khỏi suy bại.

Khi ấy, Đông Viêm có một vị tướng quốc, là đại nho nổi danh thiên hạ, ông không đành lòng nhìn Đông Viêm diệt vong, một tay bảo toàn huyết mạch hoàng thất Đông Viêm, ổn định cục diện trong nước, rồi lại xông pha tiền tuyến, một trận binh bại, ông thà chết không hàng, tại chỗ dẫn theo hơn trăm tàn binh nhảy vào sông Phong, Ung Ninh vạn tiễn bắn xuống nước, mặt sông nhuộm đỏ một màu máu, Ung Ninh tưởng đã đại thắng, đang định thừa thắng xông lên, triệt để san bằng Đông Viêm, thì bỗng nhiên sông Phong dâng cao, dòng nước đỏ ngầu tràn qua đồng nội, lấy dòng lũ cuồn cuộn chặn đứng đường tiến, quân đội Ung Ninh không biết bơi, huống chi sông Phong hung hiểm, chỉ trong chớp mắt đã có thể nuốt thuyền chìm mạng, dã tâm của hoàng đế Ung Ninh vì thế tan thành mây khói, từ đó sông Phong hóa thành thiên hào, chia cắt hai nước, Đông Viêm cũng nhờ vậy mà được bảo toàn, quốc lực ngày càng cường thịnh, đến tận bây giờ, đã là kẻ ngạo thị quần hùng.”

“Thật hay giả vậy? Nghe cứ như thoại bản.”

Tích Ngọc kể rất lôi cuốn, Lâm Nương dĩ nhiên nghe say sưa.

“Đương nhiên là thật!”

Tích Ngọc nói: “Sư tổ ta thỉnh thoảng sẽ vào mộng của sư phụ ta kể chút chuyện thú vị về tiên gia, ta cũng là nghe sư phụ kể, vị tướng quốc Đông Viêm năm xưa ấy, chính là thủy bá của sông Phong ngày nay.”

Thủy bá?

Lâm Nương cúi đầu nhìn xuống lần nữa, họ cũng không phải bay quá cao, nên còn lờ mờ thấy sóng nước mênh mang, nhưng bỗng nhiên, nàng nhìn thấy trong nước hình như có mấy đốm đen chớp động, nàng nghi hoặc hỏi: “Đó là gì vậy?”

A Hằng hiện ra thân hình, đôi mắt nàng so với đôi mắt người phàm của Tích Ngọc quả thực hữu dụng hơn nhiều, nàng liếc mắt một cái, chậm rãi nói: “Không có gì, chỉ là hai con người đang vùng vẫy bên dưới thôi.”

“… Cái gì?!”

Lâm Nương và Tích Ngọc đồng thanh kêu lên.

“Vậy mau cứu người đi!”

Lâm Nương rõ ràng chỉ học được chút da lông của thuật ngự phong, lúc này lại chẳng màng gì cả, vội vàng lao xuống dưới, Tích Ngọc cũng điều khiển kiếm vàng đuổi theo sát phía sau.

A Hằng lại quay sang nhìn Trình Tịnh Trúc: “Tiểu thần tiên, chúng ta so một trận đi, xem ai là người đầu tiên túm được hai con gà ướt sũng kia lên?”

Trình Tịnh Trúc liếc nàng một cái.

“Hay là, huynh sợ thua ta?”

A Hằng cười, trong chớp mắt hóa thành sương đỏ, lao thẳng xuống khỏi tầng mây.

Nàng nhanh như tia chớp, khoảnh khắc đã bỏ xa Lâm Nương và Tích Ngọc, sương đỏ như tơ rẽ sóng nước, đồng thời kéo theo con người đang vùng vẫy lên khỏi mặt nước, cùng lúc đó pháp thừng màu bạc vào nước cuốn lấy người còn lại.

Vượt qua lớp lớp sóng lớn, một mảnh khói sóng, sương đỏ ném kẻ ướt sũng kia lên bờ, chỉ nghe một tiếng “ái da” non nớt vang lên, A Hằng hiện lại thân hình, nhìn kỹ, thì thấy kẻ lăn một vòng trong bùn bẩn ven bờ ấy, hóa ra là một đứa trẻ tay chân ngắn ngủi, A Hằng nhướng mày: “Hóa ra là một con gà con ướt nhẹp à.”

Nhìn sang thiếu nữ còn lại được pháp thừng bạc đưa lên bờ đứng vững vàng, chỉ là bộ dáng mười ba mười bốn tuổi, trên mắt quấn một dải vải đỏ ướt sũng.

“Ồ, là hai người.”

A Hằng nói.

“Á á á cứu mạng!”

Từ trên trời vọng xuống một tiếng thét chói tai, A Hằng vừa ngẩng đầu lên, đã thấy Lâm Nương đầu chổng xuống, cắm thẳng vào trong nước, tiếng thét chói tai bị nuốt chửng, A Hằng mặt không cảm xúc nhìn Lâm Nương chậm rãi nổi lên khỏi mặt nước, búi tóc tan ra, tóc vừa dài vừa ướt.

Người thứ ba.

“Cô rốt cuộc kêu gào gì thế? Cô chẳng phải là quỷ nước sao?”

Tích Ngọc đáp xuống ven bờ, thu kiếm, vẻ mặt khó hiểu.

“Quỷ nước… quỷ nước thì không được sợ nước à?”

Lâm Nương tất nhiên là có khổ không nói ra được, nàng tuy đúng là quỷ nước, nhưng vì lúc trước bị móc tim rồi rơi xuống nước mà chết, nên đối với sóng nước cuồn cuộn này luôn mang theo nỗi sợ, nàng lau mặt một cái, chậm rãi lên bờ, lúc này mới chú ý tới hai người được cứu lên, nàng không khỏi sửng sốt: “Các ngươi chẳng phải là hai người hôm nọ…”

Một lớn một nhỏ, đứa nhỏ trông nhiều lắm cũng chỉ khoảng mười tuổi, là một bé trai, đứa lớn là một tiểu cô nương chừng mười ba mười bốn tuổi, dải vải đỏ quấn trên mắt nó khiến Lâm Nương nhớ rất rõ. 

A Hằng ngẩng đầu, Trình Tịnh Trúc từ tầng mây hạ xuống bờ, sợi pháp thừng sáng bạc quay về bên hông hắn, những hạt châu sức trong suốt va chạm phát ra tiếng leng keng khe khẽ.

“Hai người sao lại rơi xuống nước? Có phải kẻ buôn người kia lại tìm tới các ngươi rồi không?”

Tích Ngọc hỏi.

“Không phải, chúng ta đã lén chạy khỏi trấn trong đêm, hắn không tìm được chúng ta đâu,” đứa bé vội lắc đầu, nói, “là chúng ta sơ ý rơi từ trên thuyền xuống nước.”

A Hằng ngẩng mắt, giữa mặt nước mênh mang dường như có một chiếc bè tre nhỏ theo sóng trôi dạt, nàng nhướng mày: “Cái đó là thuyền của các ngươi?”

Lâm Nương nhìn qua một cái, chiếc bè tre ấy vừa hẹp vừa mỏng, nàng hít vào một ngụm khí lạnh: “Thứ đó cũng gọi là thuyền? Sông Phong nước xiết như thế, hai người các ngươi không muốn sống nữa sao?”

“Chúng ta không còn cách nào khác, muốn đến Kỳ Sơn, thì bắt buộc phải vượt qua sông Phong.”

Thiếu nữ bị che mắt bằng vải đỏ phát ra giọng nói nhỏ yếu.

Tích Ngọc nghe vậy thì kinh hãi: “Các ngươi cũng muốn đi Kỳ Sơn?”

“Cũng?” đứa bé lập tức ngẩng khuôn mặt bị nước ngâm đến tái nhợt lên, “Các huynh cũng đi Kỳ Sơn sao?”

Nó mím đôi môi khô nứt, hai bàn tay bẩn thỉu chắp lại với nhau, các khớp ngón tay đỏ ửng những vết tê cóng đã nứt ra, nhưng đôi mắt lại rất sáng: “Ta và Thanh Nga tỷ tỷ có thể đi cùng các huynh không?”

“Tất nhiên là không được!”

Tích Ngọc nhíu mày: “Kỳ Sơn hiện nay yêu nghiệt hoành hành, Huệ Sơn nguyên quân đến nay còn đang trấn áp ở đó, hai đứa nhỏ như các ngươi, chạy tới nơi ấy để làm gì?”

Không biết là do gió lạnh thổi, hay bị thái độ cứng rắn của Tích Ngọc dọa sợ, đứa bé ấy run lên một cái, vài lọn tóc ướt dính vào má, nó nói: “Ta biết các tiên trưởng là người có bản lĩnh, cầu xin các người, mang theo chúng ta đi!”

Nó quỳ xuống bùn lầy dập đầu.

Lâm Nương vội vàng kéo nó đứng dậy, thấy trán nó đầy bùn, liền dùng khăn tay của mình lau cho nó: “Tiểu Sơn, ta nhớ tỷ tỷ ngươi gọi ngươi là Tiểu Sơn đúng không? Năm nay ngươi mấy tuổi rồi?”

“Ta tên là Giang Ngâm, Giang của sông nước, sơn kim ngâm,” Tiểu Sơn rũ hàng mi dài xuống, nhìn chiếc khăn trong tay Lâm Nương đã bị nước bùn làm bẩn, nó nói, “mẹ gọi ta là Tiểu Sơn, ta mười tuổi rồi.”

Nó nhớ tới mẹ cũng từng có một chiếc khăn thêu phong lan như vậy.

Lâm Nương thấy Tiểu Sơn trông rất thanh tú, có đôi mắt to tròn, chỉ là gương mặt và thân thể đều quá gầy, nhìn là biết đã lâu ngày không được ăn no, nàng dứt khoát đem toàn bộ bạc mang theo bên người nhét vào tay nó, nói: “Tiểu Sơn, Tích Ngọc ca ca nói rất đúng, Kỳ Sơn không phải nơi các ngươi có thể tới.”

Nói rồi, Lâm Nương quay sang nhìn Tích Ngọc: “Ta thấy chúng ta phải tìm cho hai tỷ đệ họ một chỗ dung thân trước đã, nếu không thời tiết lạnh thế này, cứ thế thì bọn họ phải làm sao đây?”

Trong lòng Tích Ngọc cũng rất đồng tình, liếc nhìn sang Trình Tịnh Trúc: “Tiểu sư thúc, con thấy bọn họ rơi xuống nước, người đều ướt sũng cả, nếu không sắp xếp chỗ ở, e rằng sẽ sinh bệnh mất.”

Trình Tịnh Trúc gật đầu: “Đến thôn xóm gần đây xem thử.”

Đã quyết định như vậy, Tích Ngọc liền cõng Tiểu Sơn lên lưng, Lâm Nương thì nắm tay Thanh Nga, Tiểu Sơn còn có chút không chịu, uốn éo nằm trên lưng Tích Ngọc: “Tích Ngọc ca ca, ta tự đi được mà…”

Tích Ngọc nghiêng đầu, nhìn đôi giày cỏ rách rưới trên chân nó, các ngón chân sưng tấy đến rỉ máu, cũng chẳng biết đã đi bao nhiêu đường, hắn nhịn không được nói: “Nhóc con bé tí thế này học ai cái tật cậy mạnh hả? Cả người ngươi chắc chẳng được mấy lạng thịt, ta cõng ngươi còn nhẹ như xách con gà con, đừng có động đậy lung tung.”

A Hằng nhìn Thanh Nga thì thấy khá hơn chút, đôi chân gầy nhỏ mang một đôi giày không vừa, không đến mức chân đầy vết thương, A Hằng chỉ liếc một cái đã nhận ra đôi giày ấy hơi chật, dường như rất vừa chân Tiểu Sơn.

A Hằng thu hồi ánh mắt, đúng lúc Tích Ngọc cõng Tiểu Sơn đi ngang qua, Tiểu Sơn quay đầu chạm phải ánh mắt nàng, không tiếng động gọi một tiếng “tỷ tỷ”, rồi lại nhìn Thanh Nga một cái, lắc đầu.

A Hằng hiểu ra, đứa trẻ này đã đưa giày của mình cho Thanh Nga mang, còn Thanh Nga thì không biết nó căn bản không có giày để đi.

Hai đứa trẻ vừa rơi xuống nước không chịu gió lạnh, nên bọn họ không tiện tiếp tục dùng thuật cưỡi gió.

Lâm Nương và Tích Ngọc mỗi người dẫn theo Tiểu Sơn, Thanh Nga đi phía trước, A Hằng thì thong thả đi phía sau, đợi Trình Tịnh Trúc đến gần, liền sánh bước cùng hắn: “Tiểu thần tiên, lúc nãy chúng ta coi như hòa đúng không? Không ngờ rằng, người tu hành thanh tâm quả dục như huynh, cũng chịu cùng ta phân cao thấp, để ý thắng thua.”

Trình Tịnh Trúc thản nhiên nói: “Vì sao ta lại không thể để ý?”

“Để ý thắng thua, chẳng phải là tranh cường háo thắng sao?”

Tranh cường háo thắng.

Nàng nói ra bốn chữ thành ngữ ấy, Trình Tịnh Trúc nghiêng mặt, nhìn nàng: “Cô biết thế nào là tranh cường háo thắng?”

“Thích thắng.”

A Hằng nói: “Ta thích thắng.”

“Ai dạy cô?”

Trình Tịnh Trúc lại hỏi.

A Hằng khựng bước: “Không đúng sao?”

“Cũng không hẳn là sai, đối với cô, cô thích thắng, nên muốn thắng, nhưng không phải ai cũng có thể giống cô chỉ dựa vào nhất thời tùy hứng mà quyết định mình muốn thắng được cái gì, với rất nhiều người, có lúc muốn thắng, là vì trách nhiệm, là vì không còn đường lui.”

A Hằng không hiểu lắm, nhìn hắn hỏi: “Vậy vừa rồi huynh muốn thắng ta, là vì sao?”

Gió tuyết gào thét, rừng núi trắng xóa, ánh mắt Trình Tịnh Trúc dừng trên tóc mai dính tuyết của nàng, mở miệng: “Giống cô, thích thắng.”

A Hằng sững người, bước chân nàng chậm lại theo bản năng, Trình Tịnh Trúc rất nhanh đã đi lên phía trước, A Hằng nhìn bóng lưng hắn, chuỗi bối vân phía sau nhẹ nhàng lay động.

Nàng nhận ra mình dường như chưa từng thực sự nhìn thấu thiếu niên tu sĩ này.

Thực ra nàng không cho rằng khi nãy hắn cứu Thanh Nga là vì câu “so một trận” của nàng, nàng cố ý nhắc lại, vốn nghĩ hắn sẽ nghiêm giọng bác bỏ, nói rằng sinh mạng con người không nên trở thành trò chơi của nàng.

Nhưng hắn lại không làm vậy.

A Hằng sớm đã thấy qua lòng từ bi của hắn, ở thôn Hắc Thủy chốn Xích Nhung, bao nhiêu người không tin tưởng hắn, hắn vẫn mạo hiểm kim thân tổn hại mà cứu bọn họ, ở phủ Tạ, khi nàng muốn giết hai nữ họ Tạ, cũng là hắn đứng ra ngăn đầu tiên.

Nhưng nàng cứ cảm thấy, lúc nãy hắn là vì cứu người, cũng là đáp lại cuộc so tài trẻ con của nàng, hắn quá trầm ổn, cũng quá thông tuệ, thường khiến A Hằng quên mất rằng hắn chỉ là một thiếu niên nhân loại mười bảy tuổi.

Thế nhưng hắn có lòng tranh thắng, chịu đáp lại lời hẹn ấu trĩ của nàng, còn nói với nàng rằng hắn cũng thích thắng giống nàng, một thân khí phách thiếu niên.

A Hằng men theo dấu chân của hắn trên tuyết, từng bước từng bước theo sau hắn, tiếng giẫm tuyết xào xào vang lên, phía trước, Lâm Nương dường như đang nói gì đó với Tích Ngọc và hai đứa trẻ, nhưng nàng chẳng có tâm trí nghe.

Nàng lại lén nhìn bóng lưng Trình Tịnh Trúc.

Bỗng nhiên nàng thấy hắn rất kỳ quái.

Có lẽ hắn là người từ bi, nhưng lại không hoàn toàn từ bi, A Hằng luôn cảm thấy, hắn không giống Tích Ngọc và Lâm Nương, không thật sự để tâm đến sinh tử của một con người xa lạ.

Hắn không để ý đến sự hiểu lầm của dân làng Hắc Thủy, nên khi ấy hắn mới có thể không màng đến sự phản kháng của những người mắc bệnh xương xanh, không hề do dự, thẳng tay chém xuống.

Con người này từ trong ra ngoài, đều lạnh lẽo.

A Hằng nghĩ như vậy, đưa ngón tay ra, móc lấy tua bối vân giữa lưng hắn.

Bước chân Trình Tịnh Trúc dường như khựng lại một chút, nhưng vẫn không dừng lại.

A Hằng cười mắt cong cong, nắm lấy chuỗi tua châu sau lưng hắn, tiếp tục giẫm theo dấu chân hắn trên tuyết, từng bước không rời.

Mấy người đi chừng một canh giờ mới thấy một thôn làng, mà lúc này đúng vào giữa trưa, tuyết trên trời đã ngừng, mây dày tan ra, ánh nắng nhàn nhạt chiếu sáng cả thế giới một mảnh tuyết trắng, trong thôn nhà cửa san sát, nhưng lại không thấy một làn khói bếp nào.

Đi vào trong thôn, mọi nơi tĩnh mịch, tuyết dày gần như vùi lấp hoàn toàn con đường làng, Tích Ngọc tập trung lắng nghe, vẫn không nghe thấy tiếng người, nhìn sang các sân, hàng rào nghiêng ngả, vừa kết băng, vừa tuyết đọng, trông chẳng có dấu vết sinh hoạt.

“Sao lại không có người?”

Lâm Nương nghi hoặc nói.

Tích Ngọc cõng Tiểu Sơn, chân đang lún trong tuyết bỗng bị thứ gì đó vấp phải, hắn suýt ngã, may mà phản ứng kịp thời, giữ vững thân hình, mới không ngã kéo theo cả Tiểu Sơn. 

Tích Ngọc nhấc chân ra, ánh mắt trong khoảnh khắc đông cứng ở cái hố tuyết bị hắn giẫm ra, hắn kinh ngạc nói: “Ở đây.”

Trình Tịnh Trúc dừng lại, A Hằng cũng dừng theo, nàng đứng sau lưng Trình Tịnh Trúc, tay vẫn nghịch sợi tua bạc kia, nghiêng đầu nhìn vào hố tuyết, bên trong lại là một gương mặt da thịt tái nhợt, lộ ra một con mắt mở trừng, con mắt ấy đục ngầu vô thần, dường như sắp lồi ra khỏi hốc mắt, băng tuyết nhuộm trắng lông mày và hàng mi của người đó, tuyết xốp bỗng sụp xuống, phủ kín cả con mắt kia.

“Hắn…”

Lâm Nương quay lại, thấy cảnh tượng này, môi run lên: “Vậy, vậy lúc nãy chân ta chạm phải, cũng không phải cành cây gì cả, mà là, mà là…”

Nàng vừa chỉ cảm thấy mũi chân chạm phải thứ gì, nhưng không để tâm, bước dài một bước vượt qua.

Trình Tịnh Trúc nâng tay lên, pháp thừng màu bạc bay vút ra, từng lớp tuyết cuộn tung, dưới tuyết, từng bộ xác khô bị băng tuyết phong kín lần lượt lộ ra.

Tiểu Sơn nằm trên lưng Tích Ngọc, trừng to mắt.

Tích Ngọc liếc nhìn sơ qua, ước chừng phải đến hơn trăm cỗ thi thể, trong lòng hắn lạnh toát, lại cúi xuống nhìn kỹ gương mặt nam thi trước mắt, rồi nhìn sang những thi thể lân cận, sau đó nói với Trình Tịnh Trúc: “Tiểu sư thúc, những người này toàn thân không còn chút khí huyết nào, da thịt khô quắt, nét mặt méo mó, nhìn là biết bị hút cạn khí huyết mà chết! Nơi này nhất định có yêu vật quấy phá!”

A Hằng ngồi xổm xuống, nhìn kỹ thi thể trước mặt: “Thì ra sau khi bị hút khô, nhân loại các ngươi lại trông xấu xí thế này, những người này đều chết chung một chỗ, hình như đều chết cùng lúc, một con yêu không có cái bụng lớn đến vậy, e là cả một bầy yêu cố ý gom họ lại, để hút khí huyết.”

Nàng cảm nhận được chút huyết khí tàn dư mỏng manh, không khỏi phẩy tay trước mũi: “Thứ đục ngầu hôi thối thế này, mà chúng cũng nuốt trôi được, đúng là không kén chọn.”

“Không phải tất cả yêu tà đều giống như cô.”

Trình Tịnh Trúc nói.

“Giống ta ở điểm nào?”

A Hằng nghiêng đầu nhìn hắn, ánh nắng buổi trưa chiếu lên tuyết trắng lấp lánh, phản chiếu cùng vạt áo đen của hắn, hắn không nói, nhưng A Hằng bỗng hiểu ra.

Đúng vậy, không phải yêu tà nào cũng có gan như nàng, dám thèm khát thanh khí của một tu sĩ, lại còn thèm khát máu của hắn.

Người bình thường không có thanh khí, cũng không có trọc khí, chỉ có một thân khí huyết, với yêu tà mà nói là mỹ vị, là thứ đại bổ tăng cường tu vi, nuôi dưỡng thể xác.

Rất hiếm có yêu tà lại kén chọn giống như nàng.

A Hằng nói: “Ta coi như huynh đang khen ta.”

Gần đây có ba đến năm thôn làng cách nhau không xa, mấy người lần lượt xem hết thôn làng xung quanh, không ngoại lệ, toàn bộ thôn dân đều chết thảm.

Tử trạng của con người bị hút cạn khí huyết vô cùng thê thảm, vì trời đông giá rét, thế nên những thi thể này còn chưa kịp phân hủy, đã bị đóng băng dưới băng tuyết, bởi vậy cũng giữ nguyên vẻ kinh hoàng tột độ trước lúc chết.

Già trẻ, đàn bà trẻ con, không một ai thoát được. 

Tiểu Sơn nhìn thấy một đứa trẻ còn quấn trong tã lót, đứa bé da thịt khô quắt, tay chân co rút, chút máu còn sót lại đã đông thành băng, nó nằm bên đường, không biết đã chết bao lâu.

Sắc mặt Tiểu Sơn tái nhợt, không nhịn được siết chặt cánh tay Tích Ngọc.

Thảm cảnh như vậy, Tích Ngọc khó nén sự phẫn nộ: “Mấy thôn này cộng lại phải đến mấy trăm mạng người, lũ yêu nghiệt này, đúng là tội ác ngập trời! Những người này chết chắc đã hơn một tháng, yêu khí còn sót lại nơi đây quá nhạt, tiểu sư thúc, người còn phân biệt được không…”

Trình Tịnh Trúc dọc đường đi, bùa trắng thiêu đốt mà thành ánh sáng vàng vẫn luôn theo sát bên, lúc này ngọn lửa ấy yếu dần, Trình Tịnh Trúc khép hai ngón tay, thu nó về đầu ngón tay, lửa nhảy lên vài cái, nhanh chóng hóa thành một làn khói mỏng tan biến.

Trình Tịnh Trúc nhìn về hướng làn khói mỏng bay đi.

Hắn mở miệng nói: “Kỳ Sơn.”

Lâm Nương nghe vậy, liền nói, “Chẳng trách Huệ Sơn nguyên quân hàng yêu ở Kỳ Sơn, hóa ra đám hung ác tàn nhẫn này là yêu ở Kỳ Sơn!”

“Nơi này không còn người ở nữa, vậy Tiểu Sơn và Thanh Nga phải làm sao bây giờ?”

Lâm Nương lại hỏi.

Tích Ngọc lấy bản đồ ra xem, nói: “Đi tiếp khoảng chừng một canh giờ nữa, hẳn sẽ đến được một đạo quán.”

Trình Tịnh Trúc ngẩng mắt nhìn về phía chân trời, nói: “Đi thôi.”

Nói xong, hắn dẫn đầu đi ra khỏi thôn.

Tích Ngọc ngoái đầu nhìn những xác khô tử trạng thảm thiết kia, hắn mím môi, lòng không nỡ: “Tiểu sư thúc, chúng ta… chôn cất hết những người này rồi hẵng đi được không?”

Trình Tịnh Trúc dừng lại, quay mặt: “Mấy thôn mấy trăm cỗ thi thể, con định chôn đến bao giờ?”

Tích Ngọc sững sờ, nói: “Nhưng… chẳng lẽ cứ để họ phơi thây nơi hoang dã sao? Người chết rồi, đều nên nhập thổ để an lòng.”

“Đợi băng tan tuyết chảy, xương của họ, thịt của họ, đều sẽ hóa vào đất, con có thu liệm hay không, thì có gì khác?” Trình Tịnh Trúc sắc mặt bình thản, “Giờ Kỳ Sơn yêu họa tràn lan, các nước lại vì yêu họa mà sắp thêm chiến loạn, sư huynh đang chờ tin của con và ta, nếu chậm một bước, sinh ra bao nhiêu biến số, ai gánh nổi đây?”

Ánh nắng sáng rực chiếu lên vai lưng hắn, mái tóc dài màu bạc xám óng ánh như lụa, đôi mày kia còn lạnh hơn cả băng tuyết trên mái hiên, hắn nhìn Tích Ngọc, còn Tích Ngọc á khẩu không nói nên lời.

Trình Tịnh Trúc quay đi, tiếp tục ra khỏi thôn.

Tích Ngọc cõng Tiểu Sơn, vội vàng theo sau.

Lâm Nương cẩn thận dắt Thanh Nga đi, còn A Hằng thì nhìn chằm chằm bóng lưng thiếu niên áo đen, chậm rãi theo phía sau, giày thêu trên chân nàng vì giẫm tuyết quá nhiều mà ướt sũng, nàng dứt khoát ném đi, chân trần đi một đoạn, bỗng nhiên thấy trong tay áo Trình Tịnh Trúc, bùa trắng bốc cháy bay ra, nàng lập tức dừng lại, ánh mắt đuổi theo lá bùa, quay người nhìn lại.

Lá bùa hóa thành ánh sáng vàng rực rỡ, như mây chiều bao quanh mấy thôn làng gần đó, tất cả nhà cửa trong khoảnh khắc đổ sụp, bụi khói cuồn cuộn bốc lên trời, một dải thôn làng liên miên tan biến trong khói bụi.

Những ngôi nhà khi còn sống họ từng cư trú, sau khi họ chết, sụp đổ, vỡ nát, chôn vùi họ hoàn toàn, trở thành phần mộ của họ.

A Hằng quay người lại, Tích Ngọc và Lâm Nương đều nghe thấy tiếng ầm ầm thôn làng sụp đổ phía xa, bọn họ dừng bước, quay đầu, từ xa nhìn về hướng ấy, Tiểu Sơn nằm trên lưng Tích Ngọc, cũng ngẩng đầu nhìn, Thanh Nga không thấy được, nhưng nghiêng tai lắng nghe.

Chỉ có thiếu niên áo đen là không hề quay đầu, vẫn bước về phía trước, để lại trên tuyết những dấu chân kéo dài.

Xương của họ, thịt của họ, đều sẽ hóa vào đất, con có thu liệm hay không, thì có gì khác?

A Hằng nhớ lại câu nói ấy của hắn.

Nàng luôn cảm thấy, đây không giống lời của một con người.

Nhân loại dường như luôn coi trọng nơi chốn sau khi chết, họ cho rằng người đã chết, nhất định phải được chôn cất xuống đất, mới có tôn nghiêm, mới có thể an tâm, giống như Lâm Nương sau khi mẹ nàng mất, nàng nhất định phải chôn cất bà, đắp thành một gò đất, rồi lập một tấm bia gỗ.

Lâm Nương và Tích Ngọc khi nhìn thấy những thi thể kia, họ đều lộ vẻ thương xót, ngay cả Tiểu Sơn cũng vậy, nhưng A Hằng lặng lẽ quan sát Trình Tịnh Trúc, nhìn vào mắt hắn, nhìn từng biểu cảm nhỏ nhất.

Hắn không có.

Hoàn toàn không có.

Lâm Nương và Tích Ngọc vẫn còn nhìn làn khói dày phía xa, dường như thở phào vì thi thể những người đó không còn phơi lộ nữa, A Hằng mặc kệ họ, xách váy lên, đuổi theo Trình Tịnh Trúc.

“Tiểu thần tiên, huynh không phải nói họ sớm muộn gì cũng hóa vào đất sao? Vậy sao còn phải làm thế này? Chẳng phải là chôn chung họ một chỗ hết rồi à, nhân loại các huynh hẳn là không thích bị chôn chung với nhiều người đâu nhỉ?”

A Hằng ghé sát lại gần hắn.

Trình Tịnh Trúc nói: “Không còn thần hồn, thân xác chỉ là thân xác, hồn phách con người sớm muộn cũng sẽ vào lại luân hồi, họ sẽ có thân thể mới, những thân xác này chôn hay không chôn, đều sẽ hóa thành dưỡng chất cho vạn vật, trời và đất, đều trân trọng họ như nhau.”

Hắn hạ hàng mi xuống, ánh mắt dừng ở đôi chân nàng: “Tuy cô không phải nhân loại, không sợ nóng lạnh, nhưng nơi này chim bay thú chạy đều không có, đủ thấy oán khí nặng nề, nếu da thịt bị tổn thương, oán khí thừa cơ xâm nhập, cô sẽ không dễ chịu đâu, đi nhặt giày về đi.”

“Không.”

A Hằng nói: “Giày ướt sũng rồi, mang vào khó chịu lắm, với lại ta thấy hoa thêu trên đó giờ cũng không đẹp nữa, huynh mua cho ta đôi mới đi.”

Trình Tịnh Trúc giơ tay, kim quang như sợi, chớp mắt đôi giày thêu đã đến tay hắn, hắn tiện tay ném xuống bên chân nàng: “Mang vào.”

A Hằng thấy đôi giày thêu ấy dường như không còn ướt đẫm như ban đầu nữa.

Nàng ngước mắt nhìn hắn một lúc, hừ một tiếng: “Lần này thôi vậy, nhưng tiểu thần tiên, sau này nếu huynh chịu mua cho ta đôi mới, ta sẽ hứa với huynh, nếu sau này có ngày huynh chết, ta nhất định tìm một nơi phong thủy bảo địa đích thân chôn huynh.”

Lâm Nương đi tới đúng lúc nghe thấy câu này, trợn tròn mắt.

Trình Tịnh Trúc liếc A Hằng một cái, tiếp tục đi về phía trước.

A Hằng miễn cưỡng mang giày vào, hỏi Lâm Nương: “Cô làm vẻ mặt gì vậy? Ta dùng sai từ ‘phong thủy bảo địa’ à?”

Dùng thì cũng không sai…

Lâm Nương quả thật là hận sắt không thành thép: “A Hằng, có những lúc không biết nói thì tốt nhất đừng nói, may mà Trình công tử lòng dạ rộng rãi, chứ đổi người khác, ai mà chịu nổi cô chứ…”

Quả đúng như lời Tích Ngọc nói, họ đi về phía trước thêm chừng một canh giờ nữa, liền thấy trong một thung lũng có một tòa đạo quán, mái cong cổ kính cùng những cây tùng bách xanh cao vút soi bóng lẫn nhau, trải ra một mảng tuyết loang lổ.

Họ đến gần, thấy trên cổng đạo quán đề ba chữ “Thanh Phong Quán”, Tích Ngọc nắm một nắm tuyết cho vào miệng đỡ khát, rồi nói với Trình Tịnh Trúc: “Tiểu sư thúc, để con đi gõ cửa.”

Nói xong, hắn cõng Tiểu Sơn bước nhanh lên bậc thềm, nắm lấy vòng cửa, mới gõ một cái, cánh cửa đã bỗng “két két” chậm chạp mở ra.

Một làn khói trắng từ trong phun ra, phả thẳng vào mặt Tích Ngọc, mùi hôi nồng nặc, đúng lúc này kiếm vàng cầm trên tay Tích Ngọc bỗng rung lên.

“Là yêu khí!” Tích Ngọc quát khẽ, lập tức đá văng cánh cửa đạo quán.

Khói mù dày đặc ào ạt tản ra, cuốn theo gió mạnh thổi thẳng vào mặt, Trình Tịnh Trúc sải bước xông vào trong màn khói mù, vừa qua cửa, Tích Ngọc thấy vậy, lập tức theo sát.

Ngay khi cánh cửa mở ra, A Hằng đã cảm nhận được mùi máu tanh nồng nặc, trong mùi máu tanh ấy còn lẫn từng sợi thanh khí, khiến cổ họng nàng khô khốc, nàng không nhịn được theo sát bước vào, trong Thanh Phong Quán địa thế rộng rãi, các điện cao lớn hùng vĩ, vây quanh thành thế,  chính giữa là một mảnh đất trống, gạch đá bạch ngọc lát kín như bàn cờ, trên đó khắc một bức Thái Cực Đồ.

Lúc này Thái Cực Đồ máu me đầm đìa, khắp nơi là thi thể các đạo sĩ mặc áo bào vải xám, trên mặt và thân họ đầy những vết cào của móng vuốt sắc nhọn.

Ở trung tâm Thái Cực Đồ, một đạo sĩ mũ vỡ tóc rối, hắn dốc hết sức nắm chặt cánh tay đầy lông, móng vuốt dài nhọn của đối phương, đôi mắt gần như nhuốm đầy tia máu, trán, cổ gân xanh đều nổi cuồn cuộn, tay còn lại của hắn run rẩy mò mẫm trên mặt đất.

Đúng lúc ấy, pháp thừng sáng bạc và kiếm vàng đồng thời lao tới, thứ toàn thân phủ lông đen kia lập tức nhạy bén lùi về sau, kiếm vàng sượt qua tai nó, còn pháp thừng thì thừa cơ quấn chặt cánh tay nó.

Trình Tịnh Trúc nắm pháp thừng giật mạnh, thứ kia loạng choạng lùi lại, buộc phải buông tay khỏi đạo sĩ.

Đạo sĩ lập tức rã rời, thở dốc dữ dội, máu không ngừng trào ra từ miệng.

Thứ kia gầm lên một tiếng, lông trên người  ngắn đi một đoạn, hình thể cũng từ thú chuyển thành hình người, nhưng khi nó ngẩng đầu, lại không có tai người, chỉ có một đôi tai lông dựng trên đám tóc đen rối bù.

Hóa ra là một con lang yêu.

Miệng nó vẫn dính đầy máu, rõ ràng là mặt người, nhưng đôi mắt lại lạnh lẽo như sói, từ cổ họng nó phát ra tiếng gầm đe dọa của dã thú, móng vuốt còn đang nhỏ máu.

“Yêu nghiệt! Chưa hoàn thành hóa hình đã dám ra ngoài làm ác, to gan thật!” 

Tích Ngọc đặt Tiểu Sơn xuống, hai tay kết ấn gọi kiếm vàng về, cầm kiếm lao tới vài bước, lang yêu kia vô cùng nhanh nhẹn, tránh mũi kiếm của Tích Ngọc rồi lùi về sau, bị ép lui thêm một đoạn.

Tích Ngọc lại chém thêm một kiếm, lang yêu đưa móng vuốt ra chặn lưỡi kiếm, ánh mắt nó lại vượt qua Tích Ngọc, chăm chăm nhìn đạo sĩ đang nằm trên đất thoi thóp.

Móng vuốt lang yêu chặn kiếm, lực nặng ngàn cân, hai cổ tay Tích Ngọc trĩu xuống, trong lòng giật mình, con lang yêu này tuyệt đối không phải loại vừa mới hóa hình, mà là tồn tại đã trải qua lần thứ hai hóa hình, sắp trở thành đại yêu.

Lần thứ hai hóa hình của yêu loại, chẳng khác nào độ kiếp, là lúc yếu ớt bất ổn nhất, nhưng dù vậy, lang yêu này vẫn không thể xem thường.

Ngay khoảnh khắc Tích Ngọc phân tâm, lang yêu bỗng lao vụt đi, móng vuốt thẳng hướng đạo sĩ tóc tai bù xù kia, Tích Ngọc lập tức phản ứng lại, kiếm vàng bắn ra, đồng thời pháp thừng lại quấn chặt lấy lang yêu.

Kiếm vàng sượt qua cánh tay lang yêu, để lại một vết máu, lang yêu toàn thân tức khắc căng cứng, nó trừng mắt nhìn pháp thừng bạc quấn quanh eo mình, lại nhìn cánh tay bị thương, phát ra một tiếng tru phẫn nộ.

Trình Tịnh Trúc phi thân lên, gió bốn bề mang theo tuyết lạnh ập đến, hắn như khoác kim thân, ung dung áp sát lang yêu, Trình Tịnh Trúc và Tích Ngọc đồng thời giao chiến với lang yêu, ban đầu lang yêu hung hãn dị thường, Tích Ngọc suýt bị nó cào rách cổ áo, nhưng Trình Tịnh Trúc liên tiếp đánh ra mấy đạo pháp chú, lang yêu dần rơi vào thế yếu, đúng lúc này, Lâm Nương lập tức buông tay Thanh Nga, nàng nắm chuẩn thời cơ, hai tay kết ấn.

Thanh Nga bị buông ra đột ngột, hơi hoảng hốt lùi lại hai bước, lại va phải người phía sau, nàng nghiêng mặt: “Là… A Hằng tỷ tỷ?”

A Hằng khoanh tay đứng xem trò vui, nghe thấy giọng Thanh Nga, ánh mắt nàng rơi xuống khuôn mặt Thanh Nga, dải vải che kín hai mắt nó, chỉ lộ ra vầng trán đầy đặn và gương mặt gầy gò.

Trong tai A Hằng bỗng nhói lên một cơn đau khó hiểu.

Vạn Mộc Xuân trên tóc lại khẽ rung động.

Lúc này, chú thuật của Lâm Nương đã hoàn thành, một tấm lưới nước từ trên cao trùm xuống, Trình Tịnh Trúc và Tích Ngọc đồng thời né tránh, con lang yêu thì lập tức bị trói chặt trong lưới nước.

Trình Tịnh Trúc ném ra mấy lá bùa trắng, gia cố thêm cho lưới nước, lang yêu gào rống giãy giụa, nhưng hoàn toàn không thể thoát khỏi tấm lưới siết chặt nó.

Tích Ngọc thở phào một hơi, lập tức chạy tới đỡ đạo sĩ kia, hắn lại nhìn quanh bốn phía, trong đạo quán này dường như chỉ còn lại một mình hắn sống sót, liền lấy từ trong ngực ra một viên đan dược đưa cho đạo sĩ: “Mau, uống vào đi.”

“Đa tạ…”

Giọng đạo sĩ khàn đặc, cố gắng nuốt viên đan xuống.

“Quán chủ của các ngươi đâu?”

Ánh mắt Trình Tịnh Trúc lướt qua những thi thể trên đất, nhưng quần áo của họ đều không giống quán chủ.

Đạo sĩ khó nhọc nói: “Quán chủ, quán chủ cùng sư phụ sư thúc, và rất nhiều sư huynh đệ nửa tháng trước tất cả đều đã ra ngoài tu hành muôn phương… đến nay, vẫn chưa trở về, chỉ còn lại những đệ tử tu hành nông cạn như chúng ta, căn bản không thể chống đỡ được tai họa hôm nay… nếu quán chủ họ còn ở đây, sao để yêu nghiệt này xông vào cửa, hại chết toàn bộ sư huynh đệ của ta…”

Trong mắt đạo sĩ trào ra nước mắt.

Một số đạo quán có lệ định kỳ ra ngoài du phương tu hành, Tích Ngọc biết điều đó, thấy đạo sĩ đau đớn như vậy, hắn muốn an ủi, nhưng lại không biết nên nói gì.

“Ngươi rất đau khổ sao?”

Trong lưới nước, lang yêu bỗng mở miệng nói tiếng người, mọi người nhìn về phía nó, nó đã không còn giãy giụa, mà dùng đôi mắt lạnh lùng nhìn chằm chằm đạo sĩ kia, khóe môi như nở một nụ cười quỷ dị: “Vậy thì bọn họ chắc chắn cũng đau khổ giống ngươi, bị ta giết chết, các ngươi rất sợ hãi đúng không?”

“Yêu nghiệt! Ta giết ngươi!”

Ngực đạo sĩ phập phồng dữ dội, mắt như sắp nứt ra, nhưng căn bản không đứng dậy nổi: “Ngươi giết nhiều người như vậy, chỉ là để hỏi ta có đau khổ hay không ư? Ta là con người, bọn họ là sư huynh đệ của ta, ta tất nhiên đau khổ… ta đau khổ đến mức muốn xé xác ngươi ra vạn mảnh! Ta đau khổ đến mức muốn cho những yêu nghiệt như các ngươi chết sạch!”

A Hằng vốn đang nhàn nhã xem kịch, nghe đến câu cuối cùng của đạo sĩ, nàng khẽ nheo mắt.

“Ha ha ha ha ha…” lang yêu bỗng cười điên dại, hắn quay đầu vượt qua đám người nhìn thẳng vào A Hằng: “Ngươi nghe thấy chưa? Đây mới là bộ mặt thật của loài người, lời hắn vừa nói, mới chính là chân tâm của loài người đối với chúng ta, là vô số tấm lòng đầy rẫy khinh miệt, sợ hãi, chán ghét, bọn họ căn bản không dám chung sống với chúng ta, bọn họ là kẻ dối trá, cho dù ngươi đứng về phía họ, trong lòng họ cũng sẽ không coi ngươi là cùng một loại giống như họ…”

Nó chậm rãi nói: “Tuy ta và ngươi không quen biết, nhưng chúng ta đều là yêu, chúng ta mới mãi mãi đứng cùng một chỗ, vì vậy, hãy cứu ta đi, nếu ngươi cứu ta, ta sẽ thề trước ánh trăng mà ta yêu nhất, rằng bất kể sau này ngươi gặp chuyện gì, ta cũng sẽ giúp ngươi, bởi vì chúng ta là đồng loại.”

Nó đem ánh mắt mong đợi nhìn về phía A Hằng.

Đạo sĩ kia cũng vì những lời ấy mà lúc này đưa ánh mắt kinh nghi nhìn nàng.

Người xem kịch, rốt cuộc đã thành nhân vật trong kịch.

A Hằng vòng qua Thanh Nga, tiến lên vài bước, nàng quan sát con lang yêu trong lưới nước, đột nhiên hỏi: “Vì sao ngươi lại đại khai sát giới trong Thanh Phong Quán?”

“Bọn họ đáng chết!”

Vẻ mặt lang yêu vặn vẹo, ánh mắt lướt qua từng thi thể đệ tử Thanh Phong Quán, trong mắt lại chỉ có bi thương, không hề có khoái cảm: “Đám người huyền môn này, tự xưng là chính đạo, ngoài miệng thì nói chỉ cần yêu không làm ác, thì người có thể chung sống cùng yêu, nhưng trên thực tế thì sao? Chẳng phải bọn họ vẫn tùy tiện giết hại kẻ vô tội, ngay cả những tinh quái yếu ớt nhất, chỉ vừa miễn cưỡng hóa hình, cũng không chịu buông tha… đạo của bọn họ, là chỉ vì con người, còn không bằng Thiên Y thần tộc, ít nhất có thể ban cho ta sức mạnh, cho ta cơ hội báo thù rửa hận cho con dân cả một ngọn núi của ta!”

Bốn chữ “Thiên Y thần tộc” vừa thốt ra, A Hằng không khỏi nhướng mày.

“Ta tuyệt không cho phép ngươi, yêu nghiệt này, ngậm máu phun người, làm nhục sơn môn Thanh Phong của ta!” đạo sĩ bỗng nghiến răng bật dậy, một quyền nện thẳng vào mắt âm dương ở giữa Thái Cực Đồ, tức khắc máu tuôn trào, Thái Cực Đồ bỗng nhiên bắt đầu xoay chuyển.

Sắc mặt Trình Tịnh Trúc khẽ biến, giơ tay thả pháp thừng: “Dừng tay!”

A Hằng cũng lật tay hóa ra mây đỏ, cuồn cuộn lao về phía Thái Cực Đồ, nhưng Thái Cực Đồ xoay chuyển đột ngột bắn ra từng tia kim quang, chặn lại cả pháp thừng lẫn sương đỏ, trong đó âm dương chi hỏa rực cháy dữ dội.

Lưới nước bị thiêu đốt thành hơi nước, lang yêu trong khoảnh khắc bị lửa dữ bao phủ, chưa kịp phát ra lấy một tiếng, đã hóa thành tro đen. 

“Trận Âm Dương Thiên Cương…”

Tích Ngọc lầm bầm.

Trận pháp lợi hại như vậy, trong huyền môn thế gian rất hiếm người thông hiểu, không ngờ một Thanh Phong Quán nhỏ bé, lại có đại trận như thế, lúc này hắn mới hiểu ra, ban nãy đạo sĩ bị lang yêu khống chế, mà vẫn cố chừa một tay sờ soạng dưới đất, hẳn là muốn chạm vào mắt âm dương để khởi động trận pháp, chỉ tiếc là mãi không chạm tới.

Trận pháp tan đi, trên đất chỉ còn lại một nắm tro đen.

A Hằng nhìn đống tro ấy, nàng đột nhiên nhìn thẳng đạo sĩ, ánh mắt lạnh băng: “Ai cho phép ngươi giết hắn?”

Đạo sĩ lúc này đang ngập tràn căm hận với yêu nghiệt, hắn thở dốc nói: “Các ngươi, đám yêu nghiệt này… đều đáng chết! Đáng chết! Ta chỉ hận đại trận này không thể thiêu chết cả ngươi cùng lúc!”

Đạo sĩ đã điên loạn, đôi mắt đỏ ngầu, kích động quá độ, đột nhiên phun ra một ngụm máu lớn, ngã xuống đất, toàn thân cứng đờ.

Tích Ngọc vội vàng chạy tới thăm dò hơi thở, sau đó, hắn ngẩng đầu lên: “Hắn… chết rồi.”

Viên đan dược kia cuối cùng không thể bảo vệ tâm mạch của hắn.

Toàn bộ Thanh Phong Quán bỗng chìm vào tĩnh lặng, ánh nắng nơi chân trời chẳng biết từ lúc nào đã bị mây dày che khuất, gió tuyết lại nổi lên, dưới bầu trời quạnh quẽ lạnh lẽo, Tiểu Sơn không chớp mắt nhìn chằm chằm vào nơi đạo sĩ vừa ngã xuống, nơi một khối ngọc bài từ trong ngực hắn rơi ra.

“Tiểu Sơn, mẹ sai rồi… mẹ rất hối hận, mẹ, mẹ chỉ nhớ rằng đó là một đạo sĩ, trên người hắn có một miếng ngọc bài, trên ngọc bài có khắc một đóa hoa tử vi, nhụy hoa có một viên châu vàng.”

Bên tai Tiểu Sơn vang lên giọng nói của mẹ nó.

Nó bỗng chạy nhanh tới, từ vũng máu nhặt lấy miếng ngọc bài kia, trên đó đóa hoa được chạm khắc tinh xảo, nhụy hoa khảm một viên châu vàng, đẹp đến kinh người.

Tiểu Sơn mở to mắt, kích động lẩm bẩm: 

“Là hoa tử vi, là hoa tử vi…”


Khám phá thêm từ VIVIAN THÍCH ĂN DÂU TÂY

Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.

1 Comment

  1. Ngày cuối cùng của 2025 An vẫn chăm chỉ mần truyện, nó siêu dài, để lại chút bình luận để 2026 sẽ chăm chỉ hơn

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *