Hoá Thần – Chương 47

Hoá Thần – Chương 47

Tác giả: Sơn Chi Tử

Tạ Đạm Vân trở về phủ, lúc này sắc trời đã sáng hơn rất nhiều, làn sương sớm cũng chẳng biết tự khi nào đã tan đi, nàng bước vào sân, những người hầu đang quét lá rụng đều cúi đầu gọi “đại tiểu thư”, Tạ Đạm Vân vừa ngẩng đầu liền thấy dưới hành lang có hai tỳ nữ đứng chờ, họ đều là người hầu thân cận bên cạnh mẹ nàng.

Tạ Đạm Vân bước lên hành lang, vừa vào cửa, vừa cởi áo choàng trên người giao cho Hương Đậu, nàng vén rèm châu lên đi vào trong phòng, quả nhiên thấy mẹ mình Tôn thị đang ngồi trên ghế mềm, bên cạnh có một bà mụ đang hầu hạ.

“Mẹ.”

Tạ Đạm Vân bước lên trước, khom mình gọi.

Nắng sáng tràn khắp song cửa son, Tôn thị ngẩng mi mắt, liền thấy con gái mình vai khoác ánh dương, tóc xanh má hồng, quả thực giống như nhành lan dính giọt sương sớm, sức sống dạt dào, hương thơm thoang thoảng, thế nhưng Tôn thị lại bỗng thở dài: “Vân Nhi, sáng sớm con chạy đi đâu vậy?”

“Con gái đi đến ngoài Giang Thiên Lâu để chờ một kết quả.” Tạ Đạm Vân đáp.

Kết quả gì, Tạ Đạm Vân không nói nhưng Tôn thị cũng đã hiểu, đôi mày được tỉa tót kỹ càng của Tôn thị lập tức nhíu lại: “Những điều mẹ nói, con chưa bao giờ chịu nghe.”

Tạ Đạm Vân sững lại.

Hương Đậu vội vàng nói: “Phu nhân, tiểu thư không vào Giang Thiên Lâu, chúng con đợi kết quả bên bờ sông đối diện, phu nhân, tiểu thư đã đoạt hạng nhất rồi…”

Lời Hương Đậu còn chưa dứt thì đã bị Tôn thị cắt ngang: “Tranh cái gì mà thơ khôi với đám nam nhân kia chứ.”

Hương Đậu lập tức im bặt.

Tôn thị nhìn con gái trước mặt, giọng thoáng lạnh: “Con tưởng đó là khoa cử sao? Con coi những chuyện đó nghiêm túc như thế, nhưng đối với đám đàn ổng đó chỉ là trò tiêu khiển làm dáng văn nhã, là ngón nghề giết thời gian, với họ mà nói, so với việc đỗ đạt thì nó chẳng đáng là gì, con muốn dựa vào đó để chứng minh con giỏi hơn họ ư? Dù con có đoạt hạng nhất mỗi năm, thì cũng chỉ mà một nữ tử thôi, có thể thành được chuyện lớn gì? Họ vốn dĩ sẽ chẳng để con vào mắt.”

“Con gái chẳng thèm quan tâm trong mắt họ thế nào, chẳng lẽ đọc sách biết chữ, chăm chỉ học hành thì nhất định phải vì khoa cử sao?” Tạ Đạm Vân lắc đầu, nói, “Con gái không phải đàn ông, đương nhiên hiểu mình không thể có chí nguyện như đàn ông, nhưng con gái học là để vui cho mình, ngay cả việc họ coi là tiêu khiển mà cũng chẳng thắng nổi con, vậy cớ gì con phải tự coi nhẹ bản thân?”

Con gái mình trước nay luôn cố chấp ở phương diện thi văn, Tôn thị thường vì vậy mà đau đầu, giờ lại bị lời của con gái phản bác đến á khẩu, bà dứt khoát kéo nàng đến gần: “Vương đô gửi thư tới, ông ngoại của con hỏi chuyện hôn sự của hai tỷ muội con, dường như đã có ý định chọn phu quân cho các con rồi!”

Tạ Đạm Vân nghe vậy, tim chợt thắt lại, nàng vội hỏi: “Ông ngoại rốt cuộc định thế nào?”

Tôn thị nói: “Ý trong thư của ông ngoại con là, có lẽ muốn định hôn sự tốt cho con trước tại vương đô, dù sao con là trưởng nữ nhà họ Tạ, mà ông ngoại trước kia lại rất thương cha con, chắc chắn sẽ không bạc đãi con, Vân Nhi, nếu hôn sự của con được định vào nhà quan lại ở vương đô, làm mẹ đây cũng yên tâm rồi!”

Vương đô?

Tôn thị còn đang lải nhải nói gì đó, có lẽ là oán giận nhị phòng, hoặc đang than phiền cha mất sớm quá, nhưng Tạ Đạm Vân đã không còn nghe vào nữa, tay nàng trong tay áo siết chặt chiếc khăn thêu.

Có lẽ ông ngoại sẽ vì thương nhớ cha mà chọn cho nàng một mối tốt, môn đăng hộ đối, con nhà quan lại, cơm ăn áo mặc không lo.

“Không.”

Tạ Đạm Vân bất ngờ nắm chặt lấy tay Tôn thị đang kéo nàng, ngẩng đầu lên: “Mẹ, con không muốn để ông ngoại chọn.”

Tôn thị sửng sốt, sau đó cau mày lại: “Vân Nhi, con nói gì ngu ngốc thế? Lệnh của cha mẹ, lời người mai mối, chuyện chung thân đại sự, nhất định phải là ông ngoại con định, người thương con, sẽ không để con gả vào chỗ không tốt, nhân lúc ông ngoại còn khỏe, con đừng bướng bỉnh nữa!”

Lời Tôn thị khá nghiêm khắc, theo lẽ thường, Tạ Đạm Vân là người hiểu chuyện nhất, hiếu thuận nhất, cũng chưa từng ngỗ nghịch, nhưng lúc này Tôn thị lại cảm thấy con gái dường như hơi kỳ lạ, nàng đứng ngay trước mặt, vậy mà một lời không nói, tựa như tảng đá, gió thổi không động, mắt cũng chẳng gợn sóng.

“Vân Nhi!”

Tôn thị nhíu mày gọi.

Tạ Đạm Vân bỗng quỳ xuống trước mặt Tôn thị.

“Con làm gì thế?” Tôn thị hỏi.

Toàn thân Tạ Đạm Vân đều chìm trong một lớp sáng mềm mại, nhưng nàng cúi đầu lông mi rũ xuống, vẻ mặt chìm trong bóng tối, mơ hồ khó thấy: “Con gái bất hiếu, không dám dối lừa mẹ, nếu không phải người trong lòng của mình, đời này kiếp này, con không gả.”

Tôn thị gần như cho rằng mình nghe nhầm, bà bật đứng dậy: “Cái gì? Con có người trong lòng?”

Sau buổi trưa nắng rực rỡ nhất, nhưng gió thu hiu hắt khiến hơi ấm bị xén bớt đi nhiều, A Hằng cầm một cây bút lông trong tay, lúc đầu còn ngồi rất ngay ngắn, nhưng chỉ một lát sau, nàng đã mềm oặt như bùn mà nằm bò lên bàn, bút lông bị nàng chấm đầy mực, lười nhác vẽ nguệch ngoạc trên giấy.

“Ngồi cho đúng.”

Sau lưng, một giọng nói vang lên.

A Hằng quay mặt lại, nhìn thiếu niên áo trắng ngồi cách đó không xa, trong tay hắn là chén trà, hơi nóng phả qua lông mày đôi mắt hắn, tầm mắt của hắn chạm vào nàng: “Là chính cô nói muốn học viết chữ.”

A Hằng đương nhiên không quên mình đã làm thế nào để mặt dày chạy vào phòng hắn ép hắn phải dạy nàng viết chữ, lúc này nghe câu nói ấy mang chút ý tứ đuổi khách, nhưng mông A Hằng thì chẳng nhúc nhích khỏi ghế nửa phân, nàng lập tức ngồi ngay ngắn lại, nở nụ cười với hắn: “Là ta nói mà.”

Quay đầu lại, A Hằng liền thu lại nụ cười.

Nàng dùng lực quá mạnh, bút lông chọc thành một vệt đen sì trên giấy, Trình Tịnh Trúc dường như không thể nhịn được nữa: “Không chịu học đàng hoàng thì về đi.”

“Không về.”

A Hằng đưa bút vào nghiên mực chải vài cái, nhưng bút lông nổ xù chẳng thể vuốt nổi, nàng dứt khoát dùng tay bóp lấy ngòi bút cho thẳng, rồi ngồi ngay ngắn như hắn từng dạy, hạ bút một cách trịnh trọng: “Về có gì vui đâu.”

Lâm Nương thì bận học thuật pháp.

Tạ Đạm Vân lại không chịu ngủ.

A Hằng thực sự nhàm chán chết mất, trên giấy hết viết chữ “Hằng”, lại viết đến chữ “Trúc”, viết xong còn viết đầy chữ “Lâm” nữa, nàng viết đến phát chán, bỗng nhiên quay đầu hỏi: “Tiểu thần tiên, ‘vợ chồng’ viết thế nào?”

Trình Tịnh Trúc liếc nàng một cái, nhưng không nói gì, đứng dậy đi đến bên cạnh nàng, thấy bàn tay nàng nàng toàn là mực, cây bút đưa sang cũng bị nàng làm cho nổ xù, hắn không nhận, ngón tay chỉ khẽ vẽ vài nét trên mặt bàn, rất nhanh một đầu bút lông bằng ánh vàng nhàn nhạt tụ thành.

A Hằng bắt chước, viết ra hai chữ siêu vẹo: “Cha mẹ Lâm Nương là vợ chồng, nhị phu nhân và nhị gia nhà họ Tạ là vợ chồng, Triệu Phương Như và Ôn Vinh Sinh cũng là vợ chồng, nhưng vì sao con trai và con gái nhất định phải làm vợ chồng chứ?”

“Sinh sản, là bản năng của mọi loài, nhưng chỉ có nhân loại các người mới đặt cho nó cái tên vợ chồng.”

A Hằng nói.

“Vạn vật có linh, con người có tình,” Trình Tịnh Trúc dường như đã quen với những câu hỏi vô số của nàng, “con người vì tình mà sinh yêu, yêu cha mẹ, là do huyết thống, yêu người thân bạn bè, là thứ tình không dựa vào huyết thống, còn giữa nam nữ không có quan hệ huyết thống vì tình mà sinh yêu, nên kết thành vợ chồng.”

“Tình yêu?”

A Hằng nghe xong, liền bật cười, “Ta đoán giữa Triệu Phương Như và Ôn Sinh Vinh chắc chắn chẳng có thứ đó.”

“Nhân duyên nam nữ trong nhân gian có Nguyệt lão chỉ dẫn, nhưng duyên chỉ là duyên, nhiều khi trời cao ban nhân duyên, còn chẳng bằng một câu cha mẹ đặt đâu con ngồi đó ở nhân gian, cho nên giữa vợ chồng cũng chưa chắc đã có tình yêu.”

“Nguyệt lão?” A Hằng lập tức hỏi, “ông ấy cũng ở trên mặt trăng sao?”

Trình Tịnh Trúc lắc đầu: “Nguyệt lão là hỷ thần, nhân duyên thiên hạ đều nằm trong tay ông ta, tương truyền ngàn năm trước quốc quân An quốc muốn lập hoàng hậu, xuống đàn cầu thần ý mà không được đáp ứng, trong lúc buồn bực, một đêm nằm mộng thấy dưới ánh trăng có một ông lão, ông lão đó tóc bạc phơ, tay cầm chỉ đỏ, chỉ cười mà không nói, nhấc tay chỉ vào cổ chân quốc quân, quốc quân cúi đầu, thì thấy tơ đỏ quấn lấy chân mình, hắn lại nhìn lên ông lão, thì thấy ông lão lại chỉ về phương nam.”

“Rồi sau đó?” A Hằng hỏi.

“Quốc quân tỉnh dậy, sai thần tử tìm về phương nam, quả nhiên tìm được một cô gái chân quấn chỉ đỏ, quốc quân cho rằng đó là thần dụ, bèn cưới nàng làm hậu, từ đó vợ chồng hòa thuận, nên truyền thành giai thoại, còn ông lão dưới ánh trăng cũng bởi vậy được người đời xưng là Nguyệt lão, mọi người thờ phụng ông cai quản nhân duyên nhân gian, hương khói nghi ngút.”

Trình Tịnh Trúc kể lại đoạn truyền thuyết này, giọng cũng không mấy biến hóa, bởi vậy hoàn toàn không hấp dẫn, nhưng A Hằng lại bất giác nhớ tới trong ảo cảnh Hoa Vô Cốt trên Vạn Diễm Sơn, nàng từng nghe câu chuyện về Hằng Nga và Hậu Nghệ.

“Nếu thượng giới thật sự có Nguyệt lão, nếu ông ta thật sự nắm giữ nhân duyên thiên hạ, vậy sao thần tiên trên đời lại không địch nổi lệnh của cha mẹ?” A Hằng không hiểu, thần tiên chẳng phải nên mạnh hơn con người gấp trăm ngàn lần sao?

“Dù thần có thần thông quảng đại, cũng không thể tùy ý thay đổi ý chí của con người,” Trình Tịnh Trúc nói, “mà ý chí con người thì luôn biến đổi khó lường, trời không thể nắm giữ số mệnh con người, cũng không thể quyết định tình yêu của con người, Nguyệt lão chỉ nhìn thấy duyên phận giữa nam nữ thế gian, còn duyên ấy là thoáng qua, hay trọn đời, đều nằm ở lòng người.”

“Như giữa Triệu Phương Như và Ôn Vinh Sinh, đoạn duyên ấy vốn là một đoạn nghiệt duyên do lệnh cha mẹ kết thành, Ôn Vinh Sinh ngay từ đầu đã lừa nàng ta, giữa họ là ác nhân ác quả, mà những điều này, chưa bao giờ là mệnh trời, là do con người.”

A Hằng mơ hồ hiểu, liền nói: “Triệu Phương Như rõ ràng không muốn gả cho Ôn Vinh Sinh, nhưng nàng ta vẫn phải ép mình, còn vì Ôn Vinh Sinh mượn cớ báo ân, nàng lại tự coi mình là lễ vật trả ơn thay cha mà dâng cho Ôn Vinh Sinh cả đời, còn Ôn Vinh Sinh thì sao, không chỉ nhận vơ ân cứu mạng, còn dây dưa với nữ yêu không dứt, loại người như hắn đúng là kẻ đáng ghét.”

Nói rồi, A Hằng ngẩng mặt, nhìn thiếu niên đứng bên cạnh, tươi cười nói: “Ta thấy… thích một người thì phải một lòng một dạ, huynh nói đúng không, tiểu thần tiên?”

Trình Tịnh Trúc cúi mắt, nhìn gương mặt nàng, không biết hôm nay Lâm Nương lại thoa lên mặt nàng thứ phấn gì mà má nàng ửng hồng, trông như người bình thường có sắc máu, ánh mắt như nước xuân, lung linh lấp lánh.

Nhưng trên má và chóp mũi nàng chẳng biết từ lúc nào dính vết mực đen nổi bật, mà nàng lại chẳng hay nhận ra mình nhếch nhác đến vậy, vẫn mỉm cười.

Trình Tịnh Trúc môi nhạt khẽ mở: “Cô biết gì mà một lòng một dạ?”

Giọng điệu như có một hàm ý khác, A Hằng khẽ nheo mắt, nàng tất nhiên hiểu hắn muốn nói gì, nàng hơi bực mình, nhưng vẫn cười: “Không có tim thì không hiểu được sao? Nhỡ đâu hiểu được thì sao?”

Ít nhất, nàng đối với máu hắn, tim hắn, đều là một lòng một dạ.

Ngoài cửa gió thu hun hút, ánh sáng qua màn cửa chiếu vào căn phòng, đôi mắt lạnh lẽo của Trình Tịnh Trúc chăm chú nhìn nàng, trong khoảnh khắc ấy A Hằng suýt tưởng hắn đã nhìn thấu thứ gì đó, nhưng vẻ mặt hắn vẫn bình lặng, cuối cùng chỉ “ồ” một tiếng nhạt nhẽo.

A Hằng ở phòng Trình Tịnh Trúc đến tận khi trời tối, sắc trời hoàn toàn tối mịt, A Hằng thấy ánh nến trên bàn tỏa màu cam vàng, nàng bất ngờ vứt bút: “Tạ Đạm Vân thật sự là loài người sao?”

Nàng ta còn chẳng chịu ngủ!

A Hằng cứ bám ở đây, chính là để chờ cơ hội đầu tiên nhìn trộm mộng cảnh của Tạ Đạm Vân, nàng đã nhìn trộm ký ức đời trước của Tạ Triều Yến về Triệu Phương Như, nhưng nàng càng nghĩ càng không tìm ra manh mối gì từ đó, nàng không nhìn được chấp niệm của Tạ Triều Yến rốt cuộc là gì, hơn nữa đoạn ký ức ấy còn không trọn vẹn.

Nàng vốn định xem quá khứ của Tạ Đạm Vân, nhưng ai biết được Tạ Đạm Vân này lại không chịu ngủ chứ.

Trên giường, thiếu niên tu sĩ đang nhập định bỗng mở mắt: “Đến lúc cô phải về rồi.”

A Hằng đã sớm không còn hứng thú viết chữ, Tạ Đạm Vân lại cứ không chịu ngủ, nàng thấy chán đến cực điểm, nghe thấy Trình Tịnh Trúc hạ lệnh đuổi khách, nàng ngoảnh lại liếc hắn một cái, rồi phồng má tức tối mở cửa bỏ ra ngoài.

Người vừa đi, trong phòng lập tức yên tĩnh hẳn.

Nhưng Trình Tịnh Trúc nhìn phía dưới ánh đèn, trên mặt bàn loang lổ toàn vết mực, vì khi rời đi nàng không đóng cửa, nên gió đêm lùa vào, thổi giấy tờ trên bàn bay loạn rơi đầy đất, tất cả đều là chữ viết xiêu vẹo.

Rất nhiều rất nhiều chữ “Hằng”, lại thêm vô số chữ “Trúc”, có lẽ viết đến phát ngán, chữ “Trúc” khô khốc cuối cùng cũng biến thành mấy nét nguệch ngoạc như đốt tre, còn mọc thêm mấy chiếc lá thô ráp.

Thật đúng là một mảnh bừa bộn.

Hai ba ngày tiếp đó, A Hằng mãi vẫn không tìm được cơ hội bước vào mộng cảnh của Tạ Đạm Vân, không chỉ vậy, hai tỷ muội Tạ Đạm Vân và Tạ Triều Yến còn cố ý tìm nàng gây chuyện, nhất là Tạ Triều Yến, nàng ta chạy đến trước mặt cha mình là Tạ nhị gia khóc lóc kể lể rằng A Hằng muốn hại mạng mình, bảo Tạ nhị gia đuổi nàng ra khỏi phủ, hai tỷ muội đều tỏ ra vô cùng sợ hãi A Hằng, Tạ nhị gia nửa tin nửa ngờ, chỉ đành tìm đến Trình Tịnh Trúc, nhưng lại không tiện mở miệng đuổi khách, cuối cùng vẫn là Trình Tịnh Trúc lên tiếng cáo từ trước, bốn người họ rời khỏi nhà họ Tạ, đi trọ ở khách điếm.

Hôm nay chính là ngày diễn ra thi thơ ở Đàn viên, hôm trước Đàn lang không chỉ gửi thiếp mời cho tỷ muội nhà họ Tạ, mà còn mời cả bốn người A Hằng và Trình Tịnh Trúc, sáng sớm, A Hằng bị Lâm Nương lôi kéo dẫn đến trước phòng Trình Tịnh Trúc, vừa đến nơi liền nghe bên trong truyền ra giọng của Tích Ngọc: “Sư phụ tìm con hồ yêu kia đã nhiều ngày, không ngờ rằng yêu quái ấy lại trốn đến Hạ Châu, sư phụ muốn người tới trợ giúp, hẳn là con hồ yêu ấy rất khó đối phó, tiểu sư thúc, đã như thế, chúng ta mau đi thôi!”

Trình Tịnh Trúc giơ tay lên, dập tắt những vệt chữ vàng lơ lửng trong không trung, sau đó hắn nghiêng mặt liếc sang cửa phúc: “Con ở lại.”

“Tiểu sư thúc, con…”

Lông mày Tích Ngọc khẽ nhíu, ánh mắt theo Trình Tịnh Trúc nhìn về phía cửa phúc, hắn lập tức nín bặt.

Bên ngoài một yêu một quỷ, nhất là con yêu kia, nếu để rời khỏi tầm mắt, không biết sẽ gây ra chuyện gì, Tích Ngọc hiểu lý lẽ, lập tức gật đầu.

Trong phòng bỗng im lặng, A Hằng và Lâm Nương gần như dán tai lên cửa, thì bỗng “kẹt” một tiếng, A Hằng vì bị Lâm Nương kéo lệch trọng tâm nên chúi người về phía trước, đột ngột một bàn tay đặt lên vai nàng.

Lâm Nương hoảng hốt suýt ngã, ngẩng đầu lên thì thấy Trình Tịnh Trúc đang đứng ngay cửa, đôi mắt lạnh nhạt liếc họ một cái, Lâm Nương vội cười gượng, núp sau lưng A Hằng.

A Hằng nhìn bàn tay đang giữ lấy vai mình, rồi ngước mắt lên, đối diện ánh nhìn của thiếu niên tu sĩ: “Huynh muốn đi? Đến… cái nơi gọi là Hạ Châu kia?”

“Việc trong sư môn, không tiện mang theo cô.”

Trình Tịnh Trúc dường như đã đoán rõ ý đồ của nàng.

A Hằng “ồ” một tiếng, rồi nói: “Ta có nói muốn đi đâu, huynh đi càng hay, không ai cản ta nữa, ta muốn lấy gốc chấp của con gái họ Tạ thế nào thì lấy.”

Lúc này, Tích Ngọc bước ra đứng sau lưng Trình Tịnh Trúc, ánh mắt sắc như đuốc nhìn chằm chằm A Hằng.

A Hằng liếc hắn một cái, rồi lại nhìn Trình Tịnh Trúc: “Huynh để hắn giám sát ta à?”

“Đừng làm chuyện không nên làm.”

Trình Tịnh Trúc nói.

A Hằng chỉ mỉm cười không đáp.

Sáng sớm sương mù trên núi còn dày đặc, hai tỷ muội nhà họ Tạ mỗi người ngồi một cỗ xe ngựa, mang theo đầy đủ hạ nhân, hướng về Đàn viên, trong xe Tạ Đạm Vân mơ màng ngủ được nửa tuần trà, bánh xe bỗng nhiên xóc mạnh, nàng giật mình tỉnh giấc.

Trong xe ngựa chợt tối đi.

Màn xe không còn lay động, một chút gió cũng không còn.

Tim Tạ Đạm Vân run lên, nỗi sợ quen thuộc lại trùm xuống.

“Tạ Đạm Vân.”

Nàng nghe thấy giọng nữ ấy vang lên, rất nhanh, nàng nhìn thấy từng làn sương đỏ nhàn nhạt bốc lên, Tạ Đạm Vân mở miệng định gọi Hương Đậu bên ngoài, môi khẽ động, nhưng không phát nổi một chút âm thanh nào.

Sương đỏ ngưng lại thành bóng dáng nữ tử, đang ngồi đối diện nàng.

Thiếu nữ áo trắng viền đỏ, tóc đen như mây, đôi mắt đỏ sẫm nhìn nàng chằm chằm, Tạ Đạm Vân lạnh cả sống lưng, tim như muốn nhảy khỏi cổ họng, đến cả hơi thở cũng cứng lại, chỉ thấy thiếu nữ chậm rãi mở miệng: “Tại sao cô không chịu ngủ!”

Một câu chất vấn mang sự tức giận.

…Hả?

Tạ Đạm Vân sững người.


Khám phá thêm từ VIVIAN THÍCH ĂN DÂU TÂY

Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.

Comments

No comments yet. Why don’t you start the discussion?

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *