Hóa Thần – Chương 44

Hóa Thần – Chương 44

Tác giả: Sơn Chi Tử

Đêm nay gió sương dày đặc, bầu trời không trăng cũng chẳng có sao, trong sân hơn nửa số đèn lồng đã bị gió thổi tắt, đêm đã khuya, người hầu gác đêm sợ động tĩnh quá lớn đánh thức tiểu thư, nên chẳng ai dám tùy tiện hành động, dưới hành lang hai tỳ nữ đứng canh bên cửa, trong tay mỗi người là một chiếc đèn sừng dê, ánh lửa leo lét mờ ảo, soi ra gương mặt mệt mỏi của họ.

Sương mù đỏ thẫm lặng lẽ hé mở song cửa sổ, theo khe hở trườn vào trong, ánh vàng nhạt nối gót theo sau, trong phòng, ngọn nến duy nhất trên bàn phản chiếu thân hình ngưng tụ của A Hằng, bên cạnh nàng là thiếu niên áo trắng, quanh người tỏa ra ánh vàng lấp lánh.

Ánh sáng trong phòng u tối mờ mịt, trên chiếc giường cách đó không xa, màn the thêu xanh nhạt bao phủ, trong màn thấp thoáng một bóng người mảnh mai nằm quay lưng về phía họ, hơi thở đều đặn.

A Hằng bước đến gần, đôi giày thêu uyên ương trên chân thỉnh thoảng lộ ra khỏi làn váy, nàng dừng lại trước giường, tấm màn mỏng không gió mà lay, nhẹ nhàng bay phấp phới, đôi mắt đỏ sẫm của nàng nhìn vào Tạ Triều Yến đang nằm dưới chăn gấm, nàng ta thả tóc xõa dài, tựa như đang ngủ say, nhưng đôi mày lại nhíu chặt, ánh mắt A Hằng hạ xuống, chỉ thấy bàn tay lộ ngoài chăn của nàng cũng nắm chặt vô thức, chẳng bao lâu, từ khóe mắt khép chặt của nàng ta, hai hàng lên lặng lẽ lăn xuống.

A Hằng vươn ngón tay, đầu ngón tay lạnh buốt khẽ chạm vào má Tạ Triều Yến, cả người Tạ Triều Yến tức khắc run lên, nhưng vẫn không tỉnh khỏi giấc mơ. 

“Nàng đang khóc, vậy là nàng rất đau lòng.”

A Hằng rút tay khẽ lau lên chăn Tạ Triều Yến, rồi quay mặt sang, nhìn Trình Tịnh Trúc: “Giấc mơ mà huynh nói, chúng ta phải làm sao để đi vào trong đó?”

A Hằng thực ra cũng chẳng thật hiểu giấc mơ của con người rốt cuộc là thứ gì, có lẽ, cũng giống như ảo cảnh mà người ta ở Vạn Diễm Sơn từng trải qua vì hoa Vô Cốt chăng?

Thật thật giả giả, rối rắm khó phân.

Trình Tịnh Trúc đảo mắt nhìn quanh, chỉ thấy sương mờ lay động, còn bóng tỳ nữ đứng canh ngoài cửa chẳng hề nhúc nhích, quá rõ ràng, A Hằng đã phong toả hoàn toàn gian phòng này tách biệt với bên ngoài.

“Cô phải hứa với ta, sau khi vào trong mộng, không được làm nàng ta bị thương dù chỉ một chút.”

Trình Tịnh Trúc nói.

A Hằng nhướng mày: “Sao thế? Dù là trong mộng của nàng ta, ta cũng không được giết à? Ảo cảnh vốn là giả, ta có làm nàng ta bị thương thật, nàng ta cũng sẽ không chết.”

Mộng không phải ảo cảnh, mộng là nơi chứa định mong cầu và nghĩ suy, là thế giới tinh thần được xây dựng nên từ thực tại của một người,” Trình Tịnh Trúc giọng điềm tĩnh, mi mắt khẽ nâng, “cô là kẻ xâm nhập, nếu trong mộng làm nàng ta bị thương, tức là phá huỷ nguyên khí và tinh thần làm người của nàng ta, dẫu không mất mạng, cũng sẽ bị tổn thương nguyên khí nặng nề vì hành vi của cô.”

“Ồ,” A Hằng gật đầu, dường như hiểu ra, giọng nàng trầm xuống, “vậy ra huynh vốn biết có cách tốt đi vào mộng mà lại không chịu nói với ta, huynh là sợ ta huỷ mất nguyên khí của nàng ta sao?”

A Hằng chậm rãi tiến gần hắn: “Tiểu thần tiên, huynh thấy thế có công bằng không? Ta giấu huynh, huynh liền mắng ta, vậy mà giờ huynh giấu ta, nói xem, ta nên đối xử với huynh thế nào đây?”

“Là cô muốn giết con gái nhà họ Tạ trước,” Trình Tịnh Trúc liếc nhìn nàng, “cô tự chuốc lấy thôi.”

A Hằng khựng lại.

Thật là một câu “cô tự chuốc lấy”, A Hằng bật cười: “Con người các huynh so với yêu tà tinh quái, chẳng qua chỉ là loài phù du sớm nở tối tàn thôi, chết thì có gì đáng sợ? Cùng lắm lại đầu thai là xong?”

“Vậy sao?”

Trình Tịnh Trúc nhàn nhạt nói: “Thế còn Tuyền Hồng thì sao? Cô nghĩ vì sao nàng ta không chịu đầu thai?”

Nhắc tới Tuyền Hồng, nụ cười nơi khoé môi A Hằng bỗng khựng lại.

Con người luôn có quá nhiều điều nàng không thể hiểu, ví dụ như Nghiêu Vũ liều lĩnh không quay đầu, lại như Tuyền Hồng biến mất mãi mãi, còn những nữ quỷ như Tình Vân, họ thà hoá thành gió hoá thành mưa, chứ không chịu làm người lần nữa.

Gió mưa thì có gì tốt chứ?

“Đã nói là ta tự chuốc lấy, vậy sao huynh lại đổi ý, chịu đưa ta vào mộng?”

A Hằng lạnh giọng hỏi.

“Ta nhìn ra được, cô thật lòng muốn có được thứ mà Mạnh Bà hứa cho cô,” Trình Tịnh Trúc nói, “hôm nay ở trong xe ngựa, cô không phải là sát tâm chưa diệt đối với họ, cô chỉ là muốn buộc họ thừa nhận mà thôi.”

A Hằng hiểu ra, hắn biết hôm nay nàng vốn chẳng có ý giết con gái nhà họ Tạ, vì vậy hắn mới đoán rằng, thứ Mạnh Bà hứa cho nàng vô cùng quan trọng, cũng vì hứa hẹn của Mạnh Bà cũng đủ quan trọng, nên hắn tin chắc nàng sẽ không làm hại con gái nhà họ Tạ, vì thế mới chịu nói ra cách vào mộng.

“Tiểu thần tiên quả thật thông minh.”

A Hằng mỉm cười, nhưng nụ cười chẳng hề chạm tới đáy mắt: “Vậy điều kiện để huynh dẫn ta vào mộng là ta không được giấu huynh bất cứ điều gì liên quan đến mồi lửa, đúng chứ?”

“Cô nương A Hằng hiểu được thế là tốt.”

Trình Tịnh Trúc nói.

Ngọn nến lẻ loi cháy nơi góc bàn, ánh lửa chập chờn, phủ lên tấm màn thêu một lớp sáng tối đan xen, chia cách âm dương, A Hằng đứng trong ánh đèn, còn Trình Tịnh Trúc gần như cả người hòa tan vào bóng tối.

“Ta có thể đồng ý với huynh, nhưng hôm nay huynh khiến ta không vui, nếu chúng ta là quan hệ hợp tác,” A Hằng nhìn chằm chằm người trong bóng tối dày đặc, nàng bỗng nhào tới, “vậy thì huynh có phải nên cho ta một chút…”

Hai chữ “lợi ích” còn chưa thoát khỏi miệng, A Hằng đã thấy tay áo trắng tuyết của hắn vung lên, ngay sau đó trán nàng bị dán lên một thứ, thứ ấy hơi che mất tầm nhìn của nàng, dưới ánh sáng chập chờn, nàng nhận ra đó là một lá bùa đỏ tươi, thanh khí cực kỳ lạnh mơ hồ trong đó, mùi hương máu nồng đậm khiến nàng tức khắc miệng lưỡi khô khốc, từng tia sáng vàng lấp lánh, chiếu rọi vào khiến mắt nàng mờ nhòe.

A Hằng bỗng nhiên cảm giác có thứ gì trườn lên trên cổ tay nàng, A Hằng tập trung nhìn lại, chỉ thấy pháp thừng đuôi bạc đầu này quấn quanh cổ tay nàng, ngưng tụ thành một chiếc xiềng xích cực kỳ vững chắc, còn đầu xiềng xích kia thì nối liền với một chiếc xích màu bạc chắc chắn khác, khóa chặt trên cổ tay lạnh lẽo của thiếu niên.

“Mộng cảnh của con người không liền mạch, thường vỡ vụn thành từng mảnh, để tránh việc ta và cô rơi vào hai mảnh mộng cảnh khác nhau, chỉ có thể làm thế này.”

Đôi môi nhạt màu của thiếu niên khẽ mở.

A Hằng tức tối nhìn chằm chằm, ngay sau đó, bóng hình của nàng và Trình Tịnh Trúc đã tức khắc hóa thành làn khói mỏng, vô thanh vô tức chui vào giữa đôi mày của Tạ Triều Yến đang nằm trên giường.

Màn thêu bay lên, ngọn đèn cô độc vụt tắt.

Hoàng hôn như thiêu, ánh tà dương rực rỡ phủ khắp, sắc hồng loang đầy trời, trên hàng rào trúc treo đầy dải lụa đỏ, trước cổng căn nhà tranh có mấy tên nô bộc đứng thành hai hàng, ai nấy đều thắt lụa đỏ ở thắt lưng, lưng thẳng tắp, bên cửa có đặt một chiếc bàn nhỏ nghiêng nghiêng, một người mặc áo bào xám, đội khăn đen bóng, bên cạnh có một tiểu đồng nhận lễ mừng, hắn liền đặt bút ghi chép. 

“Chà chà! Nhà họ Triệu quả nhiên là gia đình giàu có, trong thôn chúng ta đã bao giờ thấy cảnh tượng như vậy đâu? Mấy người có thấy không? Trên thắt lưng của quản gia phủ Triệu cũng khảm ngọc đấy!”

Một người dân trong thôn đang chờ mang lễ vào dự tiệc nói với người bên cạnh.

“Ta thấy, lão Ôn thật là tích được thiện duyên cho con trai ông ta, nếu không có ông ấy, làm sao Vinh Sinh nhà bọn họ có thể cưới được tiểu thư nhà họ Triệu làm vợ? Mấy người có thấy mấy hôm nay lão Ôn cười đến mức miệng không khép lại được không, ta nói nhà họ Ôn bọn họ từ nay về sau chắc chắn là đại phú đại quý rồi!”

Có người nói.

“Nghe nói nhà họ Triệu là dòng dõi thư hương, vị Triệu tiểu thư kia càng là học rộng hiểu nhiều, hơn nữa còn xinh đẹp vô cùng,”một người phụ nữ nhỏ giọng nói, giọng pha chút phức tạp, “nàng ta gả cho Ôn Vinh Sinh, sao nhìn kiểu gì cũng thấy không xứng đôi…”

“Bà mau im miệng đi.”

Người chồng của bà nghe thấy liền trừng mắt với bà: “Hôm nay là ngày vui lớn của người ta đó!”
A Hằng đứng trong đám đông, nghe được những khuôn mặt mơ hồ kia bàn tán đủ chuyện thị phi của người ta, quay đầu lại tươi cười cả mặt mà đưa lễ mừng, nói mấy câu chúc mừng khách sáo, sau đó lần lượt vào ăn tiệc.

“Triệu tiểu thư,” A Hằng quay mặt lại, “là nàng ta sao?”

“Chắc vậy.” Trình Tịnh Trúc nói.

A Hằng xuyên qua cánh cửa mở rộng, nhìn thấy trong sân nhỏ đã chật ních bàn tiệc, người ngồi đông kín, trên bàn đầy sơn hào hải vị, món mặn món chay đủ cả.

“Ta cũng muốn ăn.”

A Hằng nói rồi kéo tay áo Trình Tịnh Trúc, nhanh chân đi tới.

Tiểu đồng giữ cửa ngẩng đầu lên, chạm phải ánh mắt của A Hằng.

A Hằng quay đi, thấy bên cạnh chất đầy một đống lễ mừng, nàng hiểu ra, nhưng sờ trên người lại chẳng có gì cả, dứt khoát tháo viên châu đỏ buộc bằng sợi chỉ đỏ trên ngón trỏ xuống, đặt lên bàn.

Trình Tịnh Trúc cúi mắt nhìn thoáng qua viên châu ấy, rồi ánh nhìn dừng lại ở tấm lưng của A Hằng.

A Hằng chợt thấy sau gáy lạnh buốt, nàng quay đầu lại, bắt gặp đôi mắt sóng lặng không gợn của Trình Tịnh Trúc, dường như cảm giác vừa rồi tất cả chỉ là ảo giác nhất thời của nàng.

Tiểu đồng kia không biết nhìn hàng, nhưng quản gia phủ Triệu thì nhận ra viên châu nhỏ bé kia tuyệt không phải vật tầm thường, ông dừng bút, nhìn đôi thiếu niên thiếu nữ trước mặt: “Hai vị khách quý là từ xa đến sao?”

“Phải.” Trình Tịnh Trúc đáp.

Quản gia phủ Triệu lập tức đứng dậy, ánh mắt dường như dừng lại một khắc nơi chiếc xích bạc nối liền hai người họ, Trình Tịnh Trúc bình thản nói: “Chúng ta đi đường xa, nhiều hung hiểm, như vậy sẽ không bị lạc nhau.”

Quản gia phủ Triệu là người từng trải: “Ồ hiểu hiểu.”

Sau đó, ông ta chắp tay thi lễ với họ: “Khách quý tặng lễ trọng như thế, ta thay chủ nhân cảm tạ hai vị, không biết vị công tử này họ gì?”

“Trình.”

“Ồ, thì ra là Trình công tử,” quản gia phủ Triệu cung kính nói, “mời hai vị mau ngồi vào chỗ uốn chén rượu mừng!”

Trình Tịnh Trúc khẽ gật đầu, cùng A Hằng bước vào cổng, sau lưng tiểu đồng cất cao giọng xướng: “Ghi, khách quý vợ chồng họ Trình đến, chúc mừng tân nhân!”

Trình Tịnh Trúc khẽ khựng bước.

A Hằng cũng dừng lại theo, nàng quay đầu, thấy quản gia phủ Triệu đang cúi đầu viết, liền tò mò hỏi: “Tiểu thần tiên, vợ chồng là gì vậy?”

Tiệc cưới đã chuẩn bị sẵn, tiếng nhạc tấu vang khắp nơi.

Trong tiệc không biết ai hô lên: “Tân nương ra bái thiên địa rồi!”

Đám đông ồn ào náo nhiệt, ai nấy đều rướn cổ, nhìn về phía sảnh chính, quả nhiên, một tỳ nữ mặc áo phấn hồng dìu nữ tử đội khăn đỏ chậm rãi bước ra, nam tử mặc áo đỏ bị bạn bè bên cạnh đẩy, một cái loạng choạng liền đến trước mặt tân nương, khuôn mặt tuấn tú của hắn đỏ bừng hết lên.

Trình Tịnh Trúc hơi ngẩng cằm: “Đó chính là vợ chồng.”

“Nam là chồng, nữ là vợ?”

“Phải.”

A Hằng nghe vậy, xuyên qua đám đông, nàng nhìn về phía đôi tân nhân trong sảnh, tân nương ấy đội khăn đỏ che mặt, dung mạo mờ ảo, nàng đứng im lặng ở nơi đó, như một bức tượng gỗ, dường như niềm vui nơi sảnh đường chẳng hề liên quan đến nàng, mà chỉ thuộc về nam tử áo đỏ kia.

Họ bái trời bái đất, rồi bái vị trưởng bối là lão ông râu tóc bạc phơ, lão ông đó cười đến híp mắt, lúc xúc động còn rơi nước mắt.

Bái trời đất xong, tỳ nữ áo phấn hồng liền dìu tân nương tránh vào phòng, dân làng vây quanh lão Ôn và tân lang Ôn Vinh Sinh chúc mừng, trong sân mở tiệc vô cùng rộn ràng.

Trong tiệc một bé gái vừa lấy được một que kẹo chiên dầu, còn chưa kịp đưa vào miệng mình, que kẹo đã bị ai đó nhanh tay giật mất, bé gái ngẩng đầu, chỉ kịp trông thấy bóng lưng thiếu nữ áo trắng đi qua, bé gái òa khóc.

A Hằng cắn một miếng kẹo, cau mày: “Đắng?”

Nhưng viên kẹo trên tay nàng có màu vàng óng, bên trên rõ ràng phủ đầy đường trắng lấp lánh.

“Đây là giấc mơ của nàng ta, những thứ này đều là cảm nhận của nàng ta.”

Giọng Trình Tịnh Trúc vang lên sau lưng A Hằng.

A Hằng lập tức mất hứng, ném viên kẹo cắn dở đi, vòng qua một bàn tiệc, thấy một lão ông nhanh như chớp chộp lấy cả khúc giò heo bóng mỡ núng nính cắm đầu gặm lấy gặm để, dầu mỡ dính đầy râu tóc, tốc độ gặm giò của ông thật sự quá kinh người, người trong bàn ai nấy đều cầm đũa trừng mắt tức tối.

A Hằng thấy buồn cười vô cùng, thì nghe Trình Tịnh Trúc nói: “Đi theo ta.”

A Hằng bị xiềng bạc kéo lại, đành phải đi theo, hai người vòng ra sân sau, lúc này các nương tử đang bận rộn trong bếp phía sau, họ vừa làm vừa buôn chuyện rôm rả.

“Lão Ôn ấy bình thường lặng lẽ ít nói, ai mà ngờ được ông ta lại từng cứu vị Triệu viên ngoại kia,” một nương tử trung niên vừa xào rau vừa nói, “vị Triệu viên ngoại ở huyện Thanh Bình ấy ai mà chẳng biết, nghe nói trước kia ông ta làm quan ở châu phủ, nhưng vì bất mãn với thói đời quan trường, nên mới từ quan hồi hương, cũng là khi đó gặp bọn cướp, bị thương ngã dọc đường chính là lão Ôn trông thấy, cho ăn uống, rồi tìm thảo dược băng bó vết thương cho ông ta, nhờ vậy mà ông ta mới giữ được mạng sống.”

“Nhưng cho dù lão Ôn có ân với Triệu viên ngoại…”

Nương tử trẻ đang rửa bát nói, nhìn thoáng qua căn nhà mới ở đằng xa, rồi hạ giọng nói: “Cũng đã bao nhiêu năm trôi qua, lão Ôn chưa từng nhắc đến, vậy mà giờ thấy Vinh Sinh nhà ông ta chẳng cưới nổi mối hôn sự tốt, mới lần mò tới tận huyện Thanh Bình, nghe nói Triệu viên ngoại đó chỉ có một cô con gái duy nhất, thế mà lão Ôn chỉ nói một câu, Triệu viên ngoại kia liền đồng ý gả con gái mình cho cái nhà họ Ôn nghèo đến nỗi thóc gạo trong kho cũng mọc mạng nhện ấy sao?”

“Nhưng cho dù lão Ôn có ân với Triệu viên ngoại…”

Nương tử trẻ đang rửa bát nói, nhìn thoáng qua căn nhà mới ở đằng xa, rồi hạ giọng nói: “Cũng đã bao nhiêu năm trôi qua, lão Ôn chưa từng nhắc đến, vậy mà giờ thấy Vinh Sinh nhà ông ta chẳng cưới nổi mối hôn sự tốt, mới lần mò tới tận huyện Thanh Bình, nghe nói Triệu viên ngoại đó chỉ có một cô con gái duy nhất, thế mà lão Ôn chỉ nói một câu, Triệu viên ngoại kia liền đồng ý gả con gái mình cho cái nhà họ Ôn nghèo đến nỗi thóc gạo trong kho cũng mọc mạng nhện ấy sao?”

Người đàn ông trẻ phụ trách bưng món nghe được cuộc trò chuyện, nhân lúc chờ đồ ăn bèn chen mồm vào: “Đó là các cô không biết nhân phẩm của vị lão gia nhà họ Triệu kia thôi!”

Thấy tất cả nương tử đều nhìn hắn, người đàn ông cười một cái, mới lại nói: “Triệu viên ngoại ấy còn làm quan vốn nổi tiếng thanh liêm, rất có danh vọng, ông ấy chán ghét những kẻ dơ bẩn nơi quan trường nên mới từ quan, nhưng dù ông ấy không làm quan nữa thì vẫn là một bậc danh sĩ thật sự, chữ ông viết, có bao nhiêu người tranh nhau trả giá cao xin lấy, nhưng ông chưa bao giờ bán, chỉ tặng cho bạn bè theo ý mình, ta nghe nói, sau khi thoát chết năm xưa, chính Triệu viên ngoại đã hứa rằng, chỉ cần ân nhân có cầu gì, ông nhất định sẽ đáp ứng, dù là mười năm sau lão Ôn mới thực hiện, Triệu viên ngoại cũng giữ lời đáp ứng mối hôn sự này.”

Nói đến đây, người đàn ông không khỏi cảm thán: “Người chính trực giữ chữ tín như Triệu viên ngoại, vậy mà chẳng hề chê nhà họ Ôn nghèo hèn, đúng là khiến người khâm phục!”

“Nhà họ Ôn đúng là gặp vận lớn rồi, có được vị Triệu tiểu thư này làm dâu, ta thấy, từ nay về sau cha con nhà họ Ôn chắc chẳng còn phải lo cơm áo nữa!”

Nương tử trung niên vừa cắt rau vừa nói.

“Đúng nhỉ? Hôm nay quản gia phủ Triệu cũng tới, ta đoán chẳng bao lâu nữa, họ sẽ cho nhà họ Ôn xây thêm căn nhà mới thôi, Triệu viên ngoại chắc chắn cũng không nỡ để con gái mình sống trong cái mái tranh rách nát, gió lọt bốn phía như vậy đâu.”

Người đàn ông nói.

Các nương tử khác cũng đồng loạt phụ họa, bàn tán rôm rả.

Chỉ có nương tử trẻ rửa bát vẫn cúi đầu, nàng hình như đang nhìn chậu nước, một lát sau, A Hằng nghe thấy nàng ta khẽ thở dài, giọng buồn bã, hoàn toàn lạc điệu: “Tiểu thư lớn lên giữa gấm vóc lụa là, lại phải gả cho một người đánh cá…”

A Hằng ẩn thân hình, nghe những người này bàn tán rất náo nhiệt, hoàn toàn không có ai phát hiện ra nàng và Trình Tịnh Trúc.

Trong tân phòng, tỳ nữ áo phấn hồng đứng bên cạnh Triệu tiểu thư đã không nhịn được nữa, phẫn nộ nói: “Tiểu thư, nô tỳ đi bảo bọn họ câm miệng lại!”

Thực ra đám người đó cũng đã cố hạ giọng, nhưng sân sau chật hẹp, nhà cửa lại quá đơn sơ, nên âm thanh trong sân dù nhỏ thế nào trong phòng vẫn nghe rõ ràng.

Tỳ nữ áo phấn hồng vừa định ra cửa thì lại bị ai đó nắm lấy cổ tay, tỳ nữ cúi mắt nhìn, thấy ống tay áo đỏ thẫm, cổ tay trắng ngần của tiểu thư mình.

Triệu tiểu thư dùng tay còn lại nhẹ nhàng vén tấm lụa đỏ trên đầu lên, A Hằng đến trước tân phòng, xuyên qua tấm rèm mỏng khắc chữ phúc, nhìn thấy gương mặt của nàng ta giống hệt như Tạ Triều Yến.

Tóc đen nhánh của nàng ta vấn thành búi cao, đội mũ phượng bằng vàng ngọc, khuôn mặt trẻ trung điểm phấn son nhạt, đẹp rực rỡ như hoa đào tháng ba, nhưng ánh mắt nàng lại lạnh lùng: “Muội về đi.”

“Tiểu thư?”

Tỳ nữ áo phấn hồng nhất thời chưa hiểu ý của nàng.

Triệu tiểu thư buông tay nàng ta, nói: “Muội quay về Thanh Bình, bảo cả quản gia cùng những người khác cũng trở về đi.”

Tỳ nữ áo phấn hồng nghe thế, lập tức quỳ rạp xuống trước mặt Triệu tiểu thư: “Tiểu thư! Nô tỳ đã làm gì sai sao? Sao người lại muốn đuổi nô tỳ đi?”

Triệu tiểu thư khẽ lắc đầu, tua rua khàn đá quý đỏ bên tóc khẽ đong đưa, ánh nến hỉ chiếu rọi những món trang sức lấp lánh đầy đầu nàng, càng khiến nàng rực rỡ đẹp đẽ: “Muội không làm gì sai cả, ta cũng không phạt muội, muội về đi, đừng cùng ta chịu khổ ở nơi này.”

Tỳ nữ vội nói: “Tiểu thư, lão gia tuyệt đối không nỡ để người chịu khổ đâu! Chẳng qua vì ngày tốt trong hoàng lịch quá gần, nếu không, nếu không lão gia chắc chắn là sẽ chuẩn bị xong nhà cửa, rồi mới để người và cô gia thành thân!”

“Dựa vào cái gì chứ?” Triệu tiểu thư bất chợt ngẩng đầu nhìn nàng, châu ngọc trên tóc khẽ rung, đôi mắt đẹp đẽ của nàng ta trở nên sắc lạnh: “Cha ta trước kia từng hứa với ân nhân một lời hứa, là nhà họ Ôn chính miệng muốn mối hôn sự này, nay hôn sự đã thành, vậy ân cung, coi như đã trả xong, còn như ruộng tốt nhà sang?”

Triệu tiểu thư bỗng bật cười, nụ cười lạnh mà kiều diễm: “Thế thì quá đáng rồi.”

Tỳ nữ nắm lấy tay Triệu tiểu thư, nước mắt tuôn rơi: “Tiểu thư, lão gia không phải vì họ, mà là vì người mà, lão gia chỉ muốn người được sống sung sướng thôi…”

Triệu tiểu thư vẫn bất động, trong đầu bất chợt hiện lên ký ức của ngày hôm ấy.

“Phương Như, nếu không có nhà họ Ôn, thì mười năm trước cha đã chẳng thể sống sót trở về, nếu thật như vậy, vợ góa con côi hai người chẳng biết sẽ phải sống thế nào,” người cha mặc áo bào màu nâu đỏ ở trong thư phòng, nắm lấy tay nàng nói.

Triệu Phương Như lập tức cảm thấy một cơn lạnh thấu xương lan khắp người, nàng rút tay khỏi lòng bàn tay cha mình, không tin nổi: “Cha thật sự muốn vì một lời hứa mà gả con gái mình cho một… một người đánh cá sao?”

Trước đó, Triệu Phương Như từng nghĩ về tương lai sau này của mình sẽ như thế nào, nhưng nàng chưa bao giờ nghĩ đến chốn về của mình lại là làm vợ của một người đánh cá!

“Hắn cũng có thể không làm nghề đánh cá nữa.”

Triệu viên ngoại nói: “Cha đã gặp đứa nhỏ tên Vinh Sinh ấy rồi, nó tướng mạo cũng không tệ, chỉ vì nhà nghèo nên không được học hành tử tế, sau này, cha sẽ cho nó vào thư viện, dù không thể thi được công danh cũng chẳng sao, quan trường không phải chốn tốt lành, nhưng đọc sách có thể hiểu lý lẽ, mở mang tầm mắt, tương lai, hai con ắt sẽ hòa thuận như cầm sắt.”

Triệu Phương Như chỉ thấy đây là một cơn ác mộng, một cơn ác mộng đáng sợ đến cùng cực, lông mi nàng run lên: “Cha, người thật sự… không thể nuốt lời sao?”

Vẻ mặt Triệu viên ngoại trở nên nghiêm túc: “Phương Như, làm người mà không giữ chữ tín thì không thể đứng vững.”

Nhưng thấy trong mắt con gái nước mắt mờ nhòe, khuôn mặt nghiêm nghị của Triệu viên ngoại nhanh chóng dịu lại, ông không kìm được nắm tay con gái: “Cha biết con giận trong lòng, nhưng đây là lời cha chính miệng hứa năm đó, ân cứu mạng, quân tử không thể nói rồi lại quên, khi ấy lão Ôn cứu ta mà không để lại tên tuổi, đủ thấy ông ấy chất phác hiền lành, nếu không phải vì con trai Vinh Sinh, ông ấy cũng sẽ chẳng đến nhắc lại chuyện này, nhà họ Ôn không lấy vàng bạc, chỉ xin một mối nhân duyên, có thể thấy được họ vốn không phải người tham tiền bạc, nếu không khi xưa lão Ôn đã nhận số tiền lớn tạ ơn của ta rồi.”

“Phương Như, yên tâm đi, cha tuyệt đối sẽ không để con chịu chút khổ nào.”

Giọng cha dường như vẫn quanh quẩn bên tai, Triệu Phương Như bật cười, mà nước mắt lại tràn đầy nơi khóe mắt: “Lệnh cha mẹ, ta không dám trái, thân là con gái, ta tự nhiên tác thành lòng báo ân của cha, ta có thể gả đến đây, nhưng muội quay về nói với cha ta, ta đã là dâu nhà họ Ôn, thì sẽ là người nhà họ Ôn, ta không cần ông ấy chu cấp thứ gì, cũng không cho phép ông ấy giúp đỡ Ôn Vinh Sinh, nhà họ Ôn đã có được ta – phần báo đáp này, vậy nên bất cứ thứ gì khác đều không được phép ban cho họ.” 

“Tiểu thư!”

Tỳ nữ bật khóc không thành tiếng: “Người hà tất phải làm thế!”

Triệu Phương Như ngồi thẳng trên giường, mặc cho tỳ nữ vừa khóc vừa khuyên thế nào, nàng vẫn như một pho tượng ngọc tinh xảo, trên mặt không một chút biểu cảm, chỉ có đôi mắt kia, là càng lúc càng đỏ, nước mắt càng lúc càng tràn đầy. 

“Chẳng phải loài người các huynh coi trọng huyết thống thân tình nhất sao?”

A Hằng đứng ngoài cửa, nói với thiếu niên bên cạnh: “Ân cứu mạng thì có gì ghê gớm chứ? Báo đáp thế nào chẳng phải đều do mình tự quyết? Cần gì phải làm ra vẻ đau thương như vậy.”

“Mỗi người coi trọng một thứ khác nhau.”

Trình Tịnh Trúc đáp.

Quả thật là như vậy.

A Hằng nghĩ, nếu là cặp cha mẹ Lâm Nương, vừa thấy Lâm Nương khóc lóc thảm thiết thế kia, làm gì còn quan tâm giữ chứ tín, nói không chừng còn mắng cho một trận nên thân.

Bỗng nhiên, xung quanh trở nên yên tĩnh, A Hằng không còn nghe thấy tiếng của mấy nương tử phụ bếp kia nữa, khi nàng quay đầu lại, bốn phía bỗng nhiên chấn động, như thể trời đất sắp sụp xuống. 

Cánh cửa trước mặt bỗng nhiên phong hóa thành khói, A Hằng nhìn thấy ánh nến trong phòng chập chờn, lập tức xung quanh mất hết màu sắc, chỉ còn lại chiếc giường cưới nơi Triệu Phương Như đang ngồi, gấm vóc chồng chất, đỏ rực một màu, Triệu Phương Như ngẩng mắt lên, mí mắt chảy xuống hàng lệ, bỗng hóa thành đỏ rực như máu.

Gương mặt nàng đẹp đến chói lọi mà lại thê lương. 

Rất nhanh, một cơn gió dữ cuốn qua thổi nhòe hết mọi khung cảnh, A Hằng nắm lấy tay áo Trình Tịnh Trúc: “Chuyện gì thế?”

“Mộng cảnh của con người vốn hỗn loạn, mộng cảnh này của nàng ta đã bắt đầu sụp đổ rồi.” 

Trình Tịnh Trúc nói.

“Cái gì?” A Hằng nhìn lại hướng lúc mình đến, nơi đó gạch ngói đều vặn vẹo méo mó không thành hình, đôi mày tức khắc cau chặt: “nhưng hạt châu của ta còn chưa lấy lại.”

Nàng vốn chẳng thật lòng định tặng hạt châu đó đi!

A Hằng nói gì thì nói cũng phải lấy lại cho bằng được, nàng lập tức buông tay áo hắn ra, nhưng không ngờ Trình Tịnh Trúc đã kịp nắm lấy cổ tay nàng, A Hằng quay đầu lại, hắn đã nhanh chóng buông nàng ra.

Tiếp đó, A Hằng thấy hắn đưa tới một vật.

Giữa đôi tay thon dài trắng lạnh, chính là viên hà châu buộc dây đỏ, tỏa ánh sáng lấp lánh rực rỡ.

A Hằng lập tức nở nụ cười: “Tiểu thần tiên, huynh lấy lại khi nào thế?”

Trình Tịnh Trúc không đáp lại nàng, mà cảnh giác ngẩng đầu nhìn lên, bầu trời mờ nhạt bỗng trở nên xám xịt, mưa tuôn như chuỗi ngọc, tí tách vang khắp không gian.

A Hằng đeo lại hà châu lên tay, ngước mắt nhìn quanh bốn phía, chỉ thấy núi non mờ mịt, nơi xa xa dường như có một nữ tử đang khom mình ẩn giữa đám cỏ khô ngút ngàn.

“… Triệu Phương Như?”

A Hằng dựa vào khuôn mặt nghiêng của nàng, nhận ra được dung mạo nàng, nhưng cũng có lẽ vì khi nãy đối với hình ảnh tân nương thân khoác gấm vóc, châu ngọc đầy đầu khiến ấn tượng quá sâu, lúc này thấy Triệu Phương Như khoác áo vải thô, dẫu rằng dung mạo vẫn xinh đẹp, lại chẳng giấu được vẻ tiều tụy.

Không biết nàng đang nhìn thứ gì, toàn thân nàng trong như cứng đờ, thân hình gần như chết lặng giữa đám cỏ dại, A Hằng không khỏi tò mò, bước lên mấy bước, ánh mắt rốt cuộc vượt qua lớp cỏ khô, trông thấy trong bụi cỏ bị đè bẹp một mảng lớn, giữa núi bất chợt sấm chớp ầm ầm, chiếu lên hai bóng người trần trụi đáng quấn lấy nhau.

Rất nhanh, ánh sáng vụt tắt.

“Mạo Châu, Mạo Châu… đừng như thế nữa, chúng ta nên quay lại thư phòng đi!”

Trong tiếng mưa rơi, vang lên giọng nam tử khàn khàn xen lẫn hơi thở dồn dập, hắn cố đẩy ra khỏi vòng tay mềm mại kia, nhưng nữ tử ấy lại nép vào cổ hắn, cười khúc khích ngọt ngào: “Vinh lang, giờ làm con rể nhà Triệu viên ngoại rồi, sao lại e thẹn thế? Khi xưa chàng rõ ràng đâu có như vậy, sao nào, bây giờ đọc được vài quyển sách, mới biết được cái gì gọi là xấu hổ chăng?”

Chân trời lại có tia chớp sáng lên, nhưng A Hằng chưa kịp thực sự nhìn rõ nam nữ trong bụi cỏ, thì bị một lá bùa trắng đột nhiên bay tới che mất tầm mắt nàng, nàng giơ tay định gỡ ra, lại nghe thiếu niên lạnh lùng nói: “Không được gỡ, nếu không, ta sẽ không giúp cô sửa lại thân xác nữa.”

A Hằng ghét nhất là bị uy hiếp, mà hắn lần nào cũng cố tình dọa đúng chỗ yếu của nàng, sắc mặt A Hằng vô cùng khó coi, nhưng cuối cùng vẫn không dám tháo bùa.

Tầm mắt tuy không nhìn thấy, nhưng nàng lại nghe được tiếng cười nói của nam nữ bên kia, chẳng qua cũng chỉ là cảnh như trên bình phong của Tuyền Hồng thôi sao? Có gì đáng xem chứ, A Hằng liền quay mặt đi, nghi hoặc hỏi: “Huynh không cho ta xem, vậy huynh có nhìn không?”

“Huynh cũng không được nhìn!” A Hằng nói.

Trình Tịnh Trúc quay đầu, nhìn thiếu nữ trước mặt trên trán dán chồng mấy lá bùa trắng, gần như che kín đôi mắt nàng, nhưng hắn vẫn có thể thấy rõ vẻ không vui trong đó.

“Không phải ai cũng có nhiều sự tò mò như cô đâu.” 

Lời Trình Tịnh Trúc nhàn nhạt.

“Mạo Châu, ta nào phải người có thiên phí học hành đâu? Bây giờ ta thế này, chẳng qua là để cho Triệu Phương Như thấy mà thôi.” trong bụi cỏ, giọng người đàn ông khẽ than trong lòng giai nhân.

Giai nhân ấy vòng tay khoác qua cổ hắn: “Thấy chàng khổ sở như vậy, không được tự do, ôi Vinh lang, là ta khiến chàng cưới nhầm nhân duyên mất rồi… Nói ra đều là ta không tốt, nếu không phải ta là một yêu thân, tự biết chẳng thể dài lâu cùng chàng, nhưng khi xưa là chàng cứ cho ta ăn cá, ta sợ nước mà vẫn thèm cá trong nước, nếu chẳng nhờ chàng, có khi ta đã chết vì chữ tham đó rồi… huynh đối tốt với ta như vậy, ta sao có thể yên lòng bỏ mặc chàng được? Vậy nên, ta mới bảo chàng đến cầu hôn nhà họ Triệu, tiểu thư nhà họ Triệu kia ta sơm gặp qua, với loài người các chàng mà nói, nàng ta quả là mỹ mạo hiếm có, quả nhiên, có nàng ta rồi, chàng liền bị nàng ta quản lý thành như vậy, chứng tỏ nàng ta giỏi hơn ta nhiều…”

“Nói gì vậy?”

Ôn Vinh Sinh ôm chặt nàng: “Lòng ta chỉ có mình Mạo Châu thôi, nhưng khi xưa nàng nói với ta như vậy, ta nào dám trì hoãn việc tu hành của nàng đâu? Ta hiểu người và yêu như chúng ta vốn khác đường, cũng hiểu nàng thương ta, nên mới kể với ta chuyện trước kia nàng từng cứu cha vợ ta, là nàng nói ông ấy ngay thẳng chính trực, nếu cha ta đến nhận phần ân tình này, ta ắt sẽ có một mối nhân duyên tốt, cha vợ ta quả nhiên nói được làm được, như vợ ta Phương Như lại chẳng có tính cách tốt như vậy, vào hôm chúng ta thành thân, nàng ta đã đuổi hết nô bộc, đêm động phòng hoa chúc, nàng ta lại nói, rằng gả đến nhà ta chỉ có mình nàng, không có bất cứ thứ gì khác, hỏi lòng ta có cam tâm không, ta nhớ đến lòng tốt của nàng, nên đương nhiên đồng ý, nhưng từ đó về sau, cả nhà ta lại bị người trong làng chê cười, bọn họ cho rằng nhà họ Ôn ta từ nay về sau phải nhờ vào nhà vợ chống lưng, thế nhưng cha vợ bên kia lại chẳng đoái hoài gì, khiến bao lời gièm pha lan khắp nơi, hầy.”

Ôn Vinh Sinh lại nói tiếp: “Những chuyện này ta đều không để tâm, ta cũng thật lòng muốn sống tốt với Phương Như, nàng ta bắt ta đọc sách, ta liền đọc, chỉ là ta vốn chẳng có thiên phú thi cử, đọc sách thì có ích gì? Nhưng để cùng nàng ta hòa thuận vợ chồng, ta đành chịu vậy thôi.”

“Ta đã nói rồi, bắt Vinh lang đọc sách, chẳng bằng cứ tiếp tục đi đánh cá!” Mạo Châu chạm vào mặt hắn, cười khúc khích nói: “Nhưng Vinh lang à, ta chỉ trở về mấy ngày này, để vui sướng với chàng mấy hôm thôi, rồi lại phải đi, khi xưa ta cứu Triệu viên ngoại kia, chỉ vì vừa khéo thấy trong bọc đồ của ông ta có cá muối, nên tiện tay giúp một phen, khi xưa cứu ông ta, cũng chẳng để lộ thân phận, vậy nên ông ta nào biết người cứu ông ta là nam hay nữ, thế nên, ta mới bảo chàng bảo cha vì mình thúc đẩy mối hôn sự này, Triệu tiểu thư dù sao cũng là tuyệt sắc giai nhân, chàng đó, cứ cùng nàng ta sống trọn đời đi.”

Ôn Vinh Sinh lại nắm tay nàng: “Nàng lại định đi sao? Mạo Châu, đừng đi được không?”

“Không được đâu Vinh lang.”

Mạo Châu kề sát má vào hắn, “Ta ở bên chàng lâu, chàng sẽ chết mất, ta thương chàng nên mới đi, chàng nhất định đừng phụ lòng tốt của ta đấy, yêu quái bọn ta vốn chẳng dễ có lòng tốt này, là vì Vinh lang chàng đẹp như thế, lại luôn cho ta ăn cá ngon nhất, nên ta mới không nỡ, lần này ta thật sự không chịu nổi mà quay về tìm chàng, nhưng Vinh lang, chúng ta chỉ là duyên thoáng qua, vui vẻ lúc này là được rồi.”

Mưa phùn dày đặc, núi rừng ẩm ướt, Ôn Vinh Sinh làm sao chịu nổi lời ngọt của Mạo Châu, phía chân trời sấm chớp vang rền, còn giữa vùng hoang vu tiếng cười nói vẫn không dứt.

A Hằng thông qua khẽ hở bùa trắng, chỉ thấy bóng Triệu Phương Như lờ mờ.

Tiếng sấm dội dồn dập, tia chớp lạnh lẽo lóe lên.

Triệu Phương Như quay người lại.

Phía sau nàng, là rừng hoa lau trắng đẫm mưa, chao đảo trong gió mưa, toàn thân nàng ướt đẫm, từng bước, từng bước tiến về phía trước.

A Hằng nhìn thấy đôi chân nàng, dính đầy bùn đất.

Nàng càng đến gần, một luồng gió dữ nổi lên hất tung lá bùa trắng trên trán A Hằng, A Hằng cảm nhận được, đó không phải là gió thật, mà là sức mạnh của cảm xúc mãnh liệt phát ra từ người Triệu Phương Như.

Cảm xúc của nàng lan tỏa ra toàn bộ mộng cảnh, hóa thành mưa gió sấm sét dữ dội hơn.

Tiếng sấm nổ đì đùng, ánh chớp lạnh lóe sáng, soi rõ khuôn mặt gầy gò, tái nhợt của Triệu Phương Như, đôi mắt nàng chết lặng, sâu thẳm, mà trống rỗng.

Nàng chỉ còn cách A Hằng vài bước, nhưng lại bỗng dừng lại.

Hàng mi đỏ rực của nàng chợt run lên.

A Hằng tưởng rằng Triệu Phương Như nhìn thấy mình, nhưng A Hằng lại cảm thấy không đúng, nàng và Trình Tịnh Trúc gần như cùng lúc quay đầu lại, chỉ thấy trong màn mưa gió ở xa xa, chẳng biết từ khi nào đã xuất hiện một bóng người áo tím.

“Đàn lang?”

A Hằng nhận ra dáng vẻ người đó, hắn đứng đó, bất động, nhưng khuôn mặt lại lộ nụ cười.


Khám phá thêm từ VIVIAN THÍCH ĂN DÂU TÂY

Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.

Comments

No comments yet. Why don’t you start the discussion?

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *