Tác giả: Sơn Chi Tử
Sương mù phủ kín giữa núi, cỏ lau và bụi cỏ lay loạn theo gió, Triệu Phương Như nhìn chằm chằm vào thiếu nữ, trước mắt thoáng chốc trở nên mơ hồ, ngay khoảnh khắc thần hồn bị kéo đi ấy, nàng nghe thấy tiếng cười khẽ của thiếu nữ, lại giống như vang lên từ sâu trong đầu chính Triệu Phương Như: “Cô không nói, vậy để ta tự xem…”
Tiếng cười trong đầu thoáng chốc hóa thành ngọn lửa nóng rực, từ trong óc nàng xuyên thẳng xuống cổ họng, đau đớn tràn lan khắp người Triệu Phương Như, nàng thét lên nhức nhối, một tay siết chặt vạt áo trước ngực, cơn đau như xé rách da thịt dọc theo kinh mạch đâm thẳng vào tim nàng.
Triệu Phương Như đột ngột trợn to mắt, nhưng lại phát hiện thiếu nữ trước mặt đã biến mất từ lúc nào, sương đỏ nhàn nhạt tiêu tán, núi đồi mênh mang, cơn mưa xám tối, ngay cả tiếng cười đùa của đôi nam nữ trong bụi lau cũng bỗng chốc biến mất, nàng nhận ra mình đang đứng dưới một hành lang dài, dây leo xanh biếc quấn quanh lan can đỏ son, hoa đằng trắng tinh run rẩy trong hơi mưa nhạt, trong sân có mấy cây tùng được cắt tỉa cẩn thận, trên nhánh tùng còn buộc một dải lụa ngũ sắc, có lẽ đã nhiều năm, màu sắc phai nhạt đứt gãy, lẻ loi lay động trong hơi mưa, như sắp rơi xuống bất cứ lúc nào.
Triệu Phương Như vừa nhìn thấy thứ ấy, cả người nàng liền căng cứng, lúc này, nàng mới nhận ra, cơn đau xé tim ban nãy đã biến mất từ lúc nào.
“Cha!”
Giữa tiếng mưa rả rích, bỗng vang lên một tiếng gọi như vậy.
Triệu Phương Như lập tức quay đầu lại, chỉ thấy bên trong đại sảnh cửa phúc mở rộng, trong sảnh u tối, chỉ có một ngọn đèn lẻ loi cháy sáng, nàng nhìn thấy trên tấm bình phong sa màu vàng nhạt, ánh đèn hắt ra hai bóng người một cao một thấp, bóng người cao kia hình như có chòm râu, bị gió nhẹ thổi khẽ lay, còn bóng người thấp thì gầy gò vô cùng, dường như đang phủ phục trước ông, chưa nói đã khóc.
Âm thanh ấy… lại giống giọng nàng đến kinh người!
Triệu Phương Như bước nhanh vào, vén rèm vàng nhạt, đi vòng qua tấm bình phong để nhìn, người nọ đứng bên cạnh bình phong chừng năm mươi tuổi, búi tóc được chải chuốt chỉnh tề, hai bên tóc đã điểm bạc, hai hàng lông mày của ông sắc nhọn, giữa mày vì thường cau lại nên hằn lên dấu chữ xuyên rất sâu, khoảnh khắc này ông mím môi, cúi xuống nắm lấy cánh tay thiếu nữ đang quỳ trước mặt, trầm giọng nói: “Hôm con xuất giá, đã nói sẽ không bao giờ quay về nữa.”
Cha.
Đó là cha nàng…
Môi Triệu Phương Như run rẩy, lại thấy bóng người gầy gò đang quỳ trước mặt cha quay lưng về hướng nàng, cái gáy trắng mảnh hơi cúi xuống, rồi xoay nghiêng mặt lại, đôi mắt ấy bỗng dưng nhìn thẳng vào Triệu Phương Như đứng không xa.
Triệu Phương Như nhìn rõ gương mặt nàng, hai đồng tử không khỏi chấn động, vô thức đưa tay chạm lên má mình.
Đó lại là một gương mặt giống nàng như đúc.
Nữ tử giống hệt nàng ấy đang quỳ trước mặt cha, dùng đôi mắt lạnh băng nhìn chằm chằm nàng, toàn thân lại không kiềm được phát run, giọng nói nghẹn ngào như bóp nghẹt từ trong cổ họng nàng: “Cha không cần con nữa, nơi này cũng không còn là nhà của con nữa, phải không?”
Triệu lão gia dường như hoàn toàn không nhìn thấy Triệu Phương Như đứng phía xa, ông chỉ chăm chú nhìn đứa con gái trước mặt, lông mày nhíu càng chặt hơn: “Phương Như…”
Triệu lão gia vừa mở miệng, đã bị nàng ta ngắt lời: “Cha giữ chữ tín, là bậc danh sĩ thanh bạch không tì vết, là quân tử mà người trong thiên hạ kính trọng bái phục, chỉ vì một lời hứa của cha, nên con mới phải gả cho con trai của một người đánh cá…”
“Con là cốt nhục của cha, được cha nuôi nấng trong nhung lụa, từ xưa lệnh của cha mẹ là lớn nhất,” khóe môi nhợt nhạt của nữ tử nhếch lên nụ cười nhạt, “ân cứu mạng của nhà họ Ôn, lẽ ra nên do con báo đáp, nhưng…”
Nàng ta bỗng ngẩng mặt đầy nước mắt: “Nhưng cha ơi, cha báo sai người rồi.”
Giọng nàng khàn đặc, tựa như đã khóc đến đứt ruột đứt gan suốt một thời gian rất dài, vẻ mặt Triệu lão gia sững lại, gần như tưởng mình nghe lầm: “Như Nhi! Con đang nói gì vậy?”
“Con nói, người cứu cha năm đó căn bản không phải cha của Ôn Vinh Sinh…”
“Ngậm máu phun người! Cha đã kiểm chứng rồi, trên người lão Ôn rõ ràng có tín vật cha giao cho ân nhân năm đó!” Triệu lão gia nắm chặt lấy tay con gái trước mặt, “Như Nhi, con coi cha là hạng người dễ bị lừa sao? Đừng làm loạn nữa…”
Nàng ta giật mạnh tay khỏi tay Triệu lão gia, giọng khàn đột nhiên trở nên sắc bén: “Nhỡ như người lừa cha vốn không phải là người thì sao? Cha, cha thật sự nhìn rõ được ai đã cứu cha năm ấy ư?”
Triệu lão gia đương nhiên không nhìn rõ, trong cảnh hỗn loạn lúc đó, ông bị thương nặng, hai mắt mù mờ, ngay cả thần trí cũng không rõ ràng, điều duy nhất ông làm được, chính là miễn cưỡng giao tín vật cho ân nhân cứu mình, và hứa sẽ trả ơn mà thôi.”
Đến khi ông tỉnh lại, đã được đưa về nhà, nhưng không ai biết người đưa ông về rốt cuộc là ai.
“Cứu cha, là một nữ yêu tên Mạo Châu,” giọng con gái lại vang lên bên tai ông, mang sự nghẹn ngào, ẩn chứ sự phẫn nộ, “nàng ta không phải người, cho nên căn bản không hiểu đạo nghĩa là gì, nàng ta cứu cha, chỉ vì trên người cha có thứ nàng ta thích…”
“Làm sao con biết được những việc này?”
Triệu lão gia trầm giọng hỏi.
“Con làm sao biết ư?” nàng nhìn vẻ mặt hoài nghi của ông, không khỏi cười chua chát, “Ha ha ha ha… từ sau khi thành thân, Ôn Vinh Sinh đối với con nói gì nghe nấy, con bảo hắn đọc sách hắn liền đọc, con không cho hắn động vào của hồi môn của con, hắn liền không động một cắc, con từng nghĩ, hắn có lẽ không phải hạng người hợp với việc đọc sách, nhưng con cũng chẳng cưỡng cầu điều đó, chỉ là con muốn hắn hiểu con, cho nên mới để hắn đọc sách, ít nhất, hắn vẫn là một người chồng tốt, vì thế dần dà, con không còn quá tủi thân, cũng không còn oán trách cha… ít ra, Vinh Sinh đối xử với con tốt.”
“Con không mong hắn trở thành Trạng nguyên gì, cũng chẳng màng làm danh sĩ thanh danh vang xa, con chỉ hy vọng hắn hiểu rằng tiền tài, địa vị, không nên dựa vào sự ban phát của cha, nếu hắn muốn, thì tự mình kiếm lấy, nếu hắn không kiếm được, dẫu gia cảnh bần hàn, thì ít ra sống cho thẳng lưng, con tưởng rằng hắn hiểu điều đó…”
Nói đến đây, nàng lắc đầu: “Nhưng con đã sai!”
“Cha, cha có biết vì sao tín vật cha giao cho yêu nữ năm đó lại rơi vào tay nhà họ Ôn không? Bởi vì, Ôn Vinh Sinh đã sớm có quan hệ mờ ám với yêu nữ Mạo Châu kia rồi, người và yêu vốn chẳng thể chung đường, Mạo Châu lo nhà Ôn Vinh Sinh bần hàn không đủ sức cưới vợ sinh con, nên mới đem tín vật trao cho nhà họ Ôn, để nhà họ Ôn mang tín vật đến cửa cầu hôn… ngay từ đầu, mọi thứ đã là một âm mưu!”
Giận dữ gần như tràn đầy đôi mắt của nàng: “Yêu nữ đáng hận đó… nàng ta căn bản không biết thành thân đối với nữ tử nhân gian quan trọng đến thế nào, nàng ta xem con như vật trong tay, tùy ý đem tặng cho kẻ khác, còn con thì sao? Cuối cùng… cuối cùng ai thực sự quan tâm đến một đời của con đây?”
“Hay cho nhà họ Ôn!”
Sắc mặt Triệu lão gia xanh mét, ông giận dữ quát to: “Vô sỉ! Thật vô sỉ đến cực điểm!”
“Cha,” nàng ta nước mắt đầy mặt, đưa tay nắm lấy vạt áo người cha, gương mặt gầy gò tái nhợt ngẩng lên, “con không thể ở lại nhà họ Ôn thêm một ngày nào nữa, từng người bọn họ đều khiến con thấy ghê tởm!”
Nàng nghẹn ngào: “Con muốn về nhà…”
Nàng như con ốc sên bị bóc mất lớp vỏ ngoài, cơ thể mềm yếu và mong manh co rút lại, chỉ muốn trở về nơi từng che chở nàng khỏi mọi mưa gió, nơi từng ôm trọn toàn bộ vui buồn của nàng.
Vì vậy, nàng bật ra thành tiếng than khó nén.
Bên trong đại sảnh bỗng trở nên tĩnh lặng, ngoài cửa mưa rơi lất phất, một trận gió lạnh thổi vụt qua khiến ngọn đèn trong sảnh chợt tắt, làn khói mỏng nhạt từ bấc nến đen sì uốn lượn bay lên, rồi tan biến.
Trong bóng tối dày đặc, nàng gần như không nhìn rõ gương mặt của cha mình.
Ngoài cửa, một tia chớp lạnh lẽo lóe lên hắt vào đôi mắt ông, tựa như có bi thương, có phẫn nộ, và còn có… quá nhiều cảm xúc khó gọi tên.
Thật lâu thật lâu sau, nàng nghe tiếng cha khàn khàn mà nghiêm nghị:
“Như Nhi, ván đã đóng thuyền.”
Mấy chữ nặng nề rơi xuống, tiếng sấm ầm vang, mưa ngoài cửa phúc càng lúc càng lớn, đứng đó không xa, Triệu Phương Như bỗng thét lên một tiếng xé ruột: “A a a!!”
Nữ tử có gương mặt giống hệt nàng đang quỳ trước mặt Triệu lão gia chậm rãi quay đầu lại, nàng rất bình tĩnh nhìn chằm chằm bộ dạng Triệu Phương Như đang gần như sụp đổ, chầm chậm quệt nước mắt trên má, nhìn giọt lệ dính trên ngón tay mình, mở miệng: “Đây là nước mắt của cô, là phẫn nộ của cô, là đau đớn của cô, thậm chí, là oán hận của cô.”
Giọng nói ấy hoàn toàn biến thành giọng của cô thiếu nữ mà Triệu Phương Như vừa gặp ban nãy.
Nhưng khi Triệu Phương Như ngẩng mắt đẫm lệ lên, lại nhìn thấy gương mặt kia vẫn giống hệt nàng, Triệu Phương Như thấy nàng ta chậm rãi đứng dậy, còn cha nàng thì bất động, như bị ghim chặt.
“Cô rốt cuộc là ai?”
Giọng Triệu Phương Như cực kỳ khàn đặc.
“Ta?”
Nữ tử khẽ mỉm cười, ánh mắt lại rơi về phía Triệu lão gia bất động như một pho tượng phía sau nàng: “Ta chính là cô, cô hận ông ta, đúng chứ?”
Triệu Phương Như da đầu tê dại, xương cốt toàn thân đều căng chặt: “Cô muốn làm gì!”
Ngón tay trắng ngần thon dài của nữ tử khẽ động, làn sương đỏ nhàn nhạt hóa thành một lưỡi dao sắc bén lơ lửng giữa không trung, lưỡi dao ấy không hề do dự lao thẳng về phía yết hầu Triệu lão gia, đồng tử Triệu Phương Như co rút mạnh: “Không!”
Lưỡi dao sắc lóe ánh sáng lạnh, thân thể Triệu lão gia trong khoảnh khắc tan thành khói mờ, lặng lẽ bay lên rồi tan biến.
Nữ tử quay đầu, nhìn đôi mắt đỏ hoe của Triệu Phương Như đang trào dâng nước mắt trong suốt, nàng khẽ mỉm cười: “Triệu Phương Như, rõ ràng cô hận ông ta, là ông ta nợ người khác một mạng, lại đem cô như một món đồ báo ân mà gả ra ngoài, hôn sự của cô, cuộc đời của cô, đều bị ông ta coi như một quân cờ trong tay…”
“Ông ấy là cha ta! Ta là con gái của ông ấy, ta nên làm vậy!”
Triệu Phương Như gào lên cắt ngang lời nàng: “Ông ấy muốn báo ân cứu mạng của người khác, thì ta phải trả ơn dưỡng dục của ông ấy!”
“Vậy à?”
Nữ tử dùng đôi mắt hàng mi giống hệt nàng mà nhìn chằm chằm nàng, như một cái bóng khác của bản thân nàng đang im lìm nhìn thấu mọi bí mật trong lòng: “Cô thật sự cam lòng sao?”
Triệu Phương Như nhìn thấy nàng ta từng bước từng bước tiến lại, vô thức lùi về sau: “Cô đừng qua đây!”
Khoảnh khắc giọng nói sắc bén của nàng thốt ra, bàn tay trắng bệch kia đã chuẩn xác bắt lấy cổ tay nàng, cái lạnh buốt xuyên qua da thịt khiến cổ họng Triệu Phương Như nghẹn lại, nàng nhìn bản thân mình phía đối diện, lại có đôi mắt đỏ sẫm.
Trong khoảnh khắc, khói sương bồng bềnh khắp bốn phía, sấm chớp vẫn lóe lên, mưa lớn xối xuống cả mặt cả người Triệu Phương Như, nàng nhận ra mình lại đứng giữa vùng núi hoang mênh mang.
Bóng nữ tử vừa giữ chặt tay nàng hóa thành sương đỏ bay đi mất, ngay lúc đó, Triệu Phương Như nghe một tiếng gọi kinh hoảng của nam tử: “Phương Như?”
Triệu Phương Như quay phắt lại, chỉ thấy sương đỏ đang ngưng tụ thành hình một “nàng” khác bước xuyên qua bụi lau sậy, từng bước giẫm ra một con đường nhỏ, đôi nam nữ đang buông thả giữa cơn mưa kia phát hiện nàng, sắc mặt nam tử trong nháy mắt trở nên vô cùng khó coi.
Ngay giây tiếp theo, Triệu Phương Như thấy “chính mình” vốn còn đang ung dung bước đi bỗng như phát điên lao thẳng về phía trước, hai tay siết chặt lấy cổ nam tử kia.
Mặt nam tử nhanh chóng đỏ bừng, hắn hơi há miệng: “Phương Như, nàng nghe ta nói…”
“Nghe ngươi nói gì?”
“Triệu Phương Như” đôi mắt đỏ rực: “Cho đến hôm nay, Ôn Vinh Sinh, ngươi còn gì để giảo biện nữa? Ngươi ở trước mặt cha ta, trước mặt ta diễn lâu như vậy, cha ta, thậm chí ta… đều tin rằng ngươi là một người tốt, nhưng sự thật thì sao? Ngươi tính kế cha ta, tính kế ta, những điều ấy, ngươi dám làm mà không dám nhận sao?!”
“Triệu Phương Như” phẫn hận đan xen, đem toàn bộ sức lực muốn bóp nát cổ người trước mặt, nhưng bản năng cầu sinh của nam tử bùng phát, hắn chộp được cổ tay nàng, dùng sức lật người đè nàng ngã xuống đất, trên cổ hắn hằn đầy dấu tay, đôi mắt tràn đầy tơ máu: “Triệu Phương Như, cô điên rồi sao? Chẳng lẽ cô thực muốn giết ta sao?”
“Triệu Phương Như” gào lên điên dại: “Ta giết ngươi! Ta giết đôi gian phu dâm phụ các ngươi!”
Mưa lớn phủ trắng trời cuốn trôi từng tấc da trắng mịn của Mạo Châu, nàng ta ngồi trong đám cỏ, hai tay chống cằm, đôi mắt tròn long lanh nhìn bọn họ, khóe môi cong lên nụ cười nhẹ.
Ôn Vinh Sinh sắc mặt tái mét, lớp mặt nạ dịu dàng nhu thuận thường ngày dường như bị xé rách khỏi gương mặt hắn, hắn ghì chặt đôi tay “Triệu Phương Như”, giọng nói lại mềm mỏng như đang dỗ dành: “Phương Như, đừng làm loạn nữa, nàng và ta đã là vợ chồng mấy năm, chuyện gì ta chưa từng thuận theo nàng? Mạo Châu và ta đúng là người quen cũ, nhưng chúng ta tuyệt không có ý ở bên nhau, dù có đi nữa, thì đã sao?”
Hắn cúi đầu, gương mặt tuấn tú trắng nõn kề sát mặt nàng, như thì thầm: “Nam tử ba thê bốn thiếp, đều là lẽ thường, huống hồ ta nghe lời nàng, chưa từng dựa vào cha vợ, cả nhà này đều dựa vào thêu thùa của nàng, mối làm ăn của ta, nếu ta thật sự muốn nạp thiếp, ta tin, dù là cha vợ cũng tuyệt không nói gì.”
“Vô sỉ, vô sỉ…”
“Triệu Phương Như” nói đứt quãng, cố giật tay thoát khỏi hắn, chộp lấy cổ hắn, Ôn Vinh Sinh lập tức đè nàng xuống lần nữa, sức lực hai tay lớn, thực như muốn bóp nát xương nàng: “Được rồi! Lời ta cô không chịu nghe? Vậy cô muốn thế nào, về nhà mẹ đẻ báo với cha vợ đại nhân? Cô nói với ông ta đi, rằng ông ta báo sai ân, rằng cô gả nhầm người?”
Ôn Vinh Sinh trên cao nhìn xuống, bóng hắn hoàn toàn che khuất bầu trời trước mắt “Triệu Phương Như”, nàng chỉ nhìn thấy gương mặt hắn, không chút hổ thẹn, ngay cả vẻ hoảng loạn ban đầu cũng biến mất sạch, đôi mắt hắn nhìn chăm chú vào nàng, đôi tay dùng sức, nắm lấy bả vai nàng, nói: “Phương Như, cô rõ tính tình của cha vợ nhất, cả đời ông ấy chính trực, coi trọng lời hứa, cuộc hôn sự giữa cô và ta chính là một đoạn giai thoại đẹp của ông, trong câu chuyện đẹp ấy, ông ấy báo ơn cứu mạng, ta vì cô chăm chỉ cần mẫn, vợ chồng ta thủ tiết giữ nghĩa, ân ái không nghi kỵ… cô đem sự thật nói cho cha vợ thì được gì? Đến khi chuyện lan truyền khắp nơi, cô nghĩ danh tiếng của ai sẽ bị tổn hại? Chẳng phải là cha vợ thân yêu sao? Hơn nữa, cô và ta đã là vợ chồng, rời khỏi ta rồi, cô còn muốn trở về nhà mẹ đẻ sao? Điều đó có thể chăng?”
Ôn Vinh Sinh cúi mắt nhìn nàng, mở miệng, giọng mềm nhẹ: “Phương Như, ván đã đóng thuyền.”
Ván đã đóng thuyền.
“Triệu Phương Như” bị hắn đè dưới thân, tựa như không thể cử động, còn Triệu Phương Như đứng cách đó không xa lại bị bốn chữ kia như đinh đóng vào xương tủy, đau đến toàn thân run rẩy.
“Phương Như muội muội.”
Giữa màn mưa mịt mù, Mạo Châu đưa một ngón tay trắng nõn khẽ lau giọt nước trên gò má “Triệu Phương Như” đang bị Ôn Vinh Sinh ép xuống bụi cỏ, nàng ta cười khẽ: “Muội cần gì phải giận dỗi Vinh lang như thế? Loài người các muội chẳng phải rất thích những câu chuyện báo ân sao? Cứu cha muội đúng là ta, nhưng ta không phải người, không cần ân nghĩa của loài người các muội, ta đem nó tặng cho Vinh lang, thì có gì sai chứ? Muội gả cho chàng, tức là báo đáp ta rồi, dù sao, ta và Vinh lang chỉ là vùi đùa một đoạn, còn các muội, mới là một đời một kiếp…”
“Triệu Phương Như” lại quay mặt đi, từ dưới cánh tay Ôn Vinh Sinh, nàng nhìn chằm chằm vào nữ tử đứng cách đó không xa, đôi môi tái nhợt khẽ hé: “Cô còn đứng đó làm gì? Lại đây, giết hắn.”
Lời vừa dứt, sương đỏ tụ lại thành một lưỡi dao sắc, lơ lửng trước mặt nữ tử kia.
Nữ tử tựa như bị mê hoặc, nàng nâng tay lên, trong không trung khẽ nắm một cái, trong khoảnh khắc chần chừ, lưỡi dao sắc đã tự chui vào lòng bàn tay nàng, nàng bỗng bị một luồng lực mạnh mẽ kéo giật đi, cả người không thể khống chế mà lao vút về phía trước, mũi dao sáng lạnh trong khoảnh khắc đã đâm thẳng vào lưng Ôn Vinh Sinh.
Còn Ôn Vinh Sinh lại chằng hề nhận ra, còn đang cố gắng khuyên nhủ “Triệu Phương Như” bị mình chế trụ hai tay phải bình tĩnh lại: “Mạo Châu sớm biết người và yêu không thể dài lâu, nên mới hao công tốn sức tác hợp mối nhân duyên giữa hai ta, Phương Như, ta thật lòng muốn cùng cô làm vợ chồng, những năm qua dù cô không sinh nở, ta cũng chưa từng có lời oán thán gì với cô, dù cô không nghĩ cho ta, cũng phải nghĩ cho cha vợ đại nhân chút chứ, chuyện giữa hai ta, có gì mà không hóa giải được?”
“Triệu Phương Như” không giãy giụa, chỉ nhìn hắn, rồi bỗng bật cười, tiếng cười của nàng nhẹ nhàng vang vọng nơi núi rừng, rất lâu sau, mới nghe nàng như đang suy nghĩ điều gì khó hiểu mà nói: “Thật kỳ lạ, bị người ta xem như vật báo ân đem tặng đi là ta, thành thân với ngươi là ta, bị lừa gạt bị che mắt là ta, ngươi lại nói, phải nghĩ cho ngươi, nghĩ cho cha ta, thế còn chính ta thì sao?”
Đôi mắt đen kịt của nàng lóe lên ánh đỏ sẫm: “Rốt cuộc ta là một con người, hay chỉ là miếng thịt trên thớt, để mặc các ngươi muốn xé thì xé, muốn gặm thì gặm, đúng không?”
Nữ tử đứng sau lưng Ôn Vinh Sinh tay cầm lưỡi dao, toàn thân run lên, mơ hồ đối diện ánh mắt “Triệu Phương Như” đang bị đè dưới thân hắn, Ôn Vinh Sinh chịu không nổi nụ cười quỷ dị ấy, chau mày nói: “Cô rốt cuộc muốn thế nào? Cho dù cô nói cho cha vợ, ông ấy có thật sự cho cô trở về? Cô tỉnh lại đi, đây là chuyện nhà, chuyện nhà thì không thể để lộ ra ngoài, cô tin không, đến lúc đó cha vợ còn khuyên ta chớ có bỏ vợ? Phương Như, quên chuyện hôm nay đi, ta nghe lời cô, chăm chỉ đọc sách, sau này thi đỗ, nói không chừng ta còn vào được quan trường, khi đó cô còn gì không hài lòng nữa?”
Sương đỏ lướt qua, một tiếng giòn vang.
Lời Ôn Vinh Sinh chợt im bặt, hắn không thể tin được mà trừng mắt nhìn “Triệu Phương Như” bị mình giữ chặt tay, hoàn toàn không hiểu vì sao mình lại bị tát một cái rõ ràng như vậy.
“Dựa vào ngươi?”
Trong mắt “Triệu Phương Như” hoàn toàn không che giấu sự mỉa mai, hơi quay mặt sang, nhìn yêu nữ quần áo xốc xếch, da thịt trắng mịn kia, khóe môi nhếch lên: “Ngươi nghĩ yêu nữ này thích ngươi vì điều gì? Bởi vì cô ta ngu si, không hiểu tốt xấu của nhân gian, chẳng có tình nghĩa, chỉ có dục vọng, cũng bởi vì ngươi là con trai của người đánh cá, xương ngươi, thịt ngươi, ngấm đầy mùi tanh tưởi của cá chết tôm hôi, thứ khiến con người ghê tởm, lại được cô ta coi như báu vật.”
Mạo Châu thu lại nụ cười trên môi: “Vinh lang.”
Giọng nàng ta nũng nịu, song tràn đầy lạnh lẽo không giống người: “Giết nàng đi, ta sẽ tìm cho chàng một người vợ đẹp hơn, tốt hơn…”
Ôn Vinh Sinh vì câu “con trai người đánh cá” mà tự tôn nhạy cảm bị đâm trúng, hắn chầm chậm dời tay từ vai “Triệu Phương Như” lên cổ yếu ớt của nàng, sắc mặt hắn vô cùng âm trầm: “Trong lòng cô, ta vĩnh viễn chỉ là con trai người đánh cá, dù khoác áo thư sinh, đứng trước mặt cô, ta mãi mãi, mãi mãi cũng chẳng ra gì, cô luôn xem thường ta, phải không?”
“Triệu Phương Như” lại không đáp.
Nàng chỉ nhìn chằm chằm nữ tử đang cầm dao sau lưng Ôn Vinh Sinh, nữ tử thấy tay Ôn Vinh Sinh siết chặt cổ nàng, nàng ta vẫn đứng bất động.
Mưa mỗi lúc một lớn, tiếng sấm rung trời.
“Nhưng cô có gì mà cao quý chứ? Cô chỉ là một nữ tử, dù đọc bao nhiêu sách, viết bao nhiêu thơ văn, cuối cùng chẳng phải vẫn gả cho một kẻ như ta, cô thoát không khỏi ta, nên mới hy vọng ta đáp ứng những ảo tưởng của cô, trở thành người có thể xứng đôi với cô, cô tự đặt mình lên vị trí cao như thế, chẳng lẽ không cảm thấy nực cười sao? Cô không cần một người chồng như ta, mà thật ra ta cũng không cần một người vợ tài nữ chỉ biết múa bút làm thơ, bổn phận của cô vốn nên là vì ta nấu canh, giặt áo, thắp đèn, sinh con dưỡng cái, vì ta mà…”
“Câm miệng!”
Nữ tử đứng phía sau hắn thét lên the thé.
Nhưng hắn dường như hoàn toàn không phát hiện, chỉ có “Triệu Phương Như” bị hắn bóp chặt cổ là trừng mắt đầy tơ máu mà nhìn nàng, bên tai, vẫn là giọng nói của Ôn Vinh Sinh: “Cô tự cho là thanh cao, lại không biết hiền lương thục đức mới là bổn phận cô phải tu dưỡng, cô không cho cha vợ giúp ta, không cho ta động vào của hồi môn của cô, chẳng phải chỉ vì muốn hờn dỗi ông ấy sao? Vì giận dỗi, cô tình nguyện từ cảnh gấm vóc châu ngọc rơi xuống cảnh chật vật thiếu thốn, để ta bị thiên hạ chê cười, khiến cha ta tuổi đã cao còn phải chịu người đời mỉa mai châm chọc không chút tôn trọng, một nữ tử như cô, rốt cuộc có điểm nào xứng làm vợ? Ta việc gì cũng thuận theo cô, đối với cô dịu dàng mềm mỏng, chẳng lẽ vẫn chưa đủ yêu thương cô? Triệu Phương Như, là cô cứ luôn rượu mời không uống… hôm nay chén phạt này, cô phải nhận rồi…”
Mạo Châu lăn lộn trong bụi cỏ, mưa lớn xối xuống thân thể trắng như tuyết của nàng, nàng khẽ bật cười yêu kiều, mà bàn tay Ôn Vinh Sinh càng bóp càng chặt, sắc mặt “Triệu Phương Như” đỏ bừng, rồi phát tím.
Đột nhiên, bàn tay Ôn Vinh Sinh khựng lại.
Mưa lớn trút xuống vai lưng hắn, hắn chậm rãi cúi đầu nhìn xuống thân mình, chỉ thấy trước ngực một mảng đỏ thẫm, lưỡi dao sắc bén cắm sâu vào máu thịt hắn, từng giọt máu chảy xuống.
Hắn quay đầu rất chậm, tia chớp lạnh lẽo chiếu vào đôi mắt hắn, nhưng lại chẳng chiếu thấy bóng người nào.
Nữ tử toàn tay đẫm máu, loạng choạng lùi lại, miệng không ngừng lẩm bẩm: “Câm miệng, câm miệng…”
Còn “Triệu Phương Như” nằm trong bụi cỏ, trên cổ là vết bầm tím do bóp siết đang nhìn nàng, bỗng bật cười, mà bóng dáng Ôn Vinh Sinh và Mạo Châu lập tức dừng lại, không còn nhúc nhích.
Cười hồi lâu, “Triệu Phương Như” xoa cổ ngồi dậy: “Đây là nỗi sợ trong lòng cô, là oán hận của cô, nhưng không phải kết cục thật sự của cô.”
“Kết cục… thật sự?”
Nữ tử ngơ ngác tột độ, ban đầu, nàng thực mờ mịt, nhưng rất nhanh, trong đầu nàng hiện ra rất nhiều hình ảnh, nàng bừng tỉnh, hóa ra tất cả trước mắt đều là giả.
Nàng nhớ ra kết cục thật sự.
Vẫn là cơn mưa âm u ấy, vẫn là bụi sậy sâu kín ấy, nàng phát hiện mọi sự thật, nhưng chỉ có thể trơ mắt nhìn Ôn Vinh Sinh và yêu nữ kia cười đùa tằng tịu với nhau.
Nàng không náo loạn, không chất vấn.
Nàng trở về nhà thu xếp hành trang, đi từ lúc trời tối đến hửng đông, nhưng đứng trước cửa nhà mẹ đẻ, nàng lại chùn bước, nàng phát hiện mình, lại sợ phải đối mặt với cha.
Nàng hồn bay phách lạc mà trở lại nhà họ Ôn, đêm xuống phát sốt, nửa mê nửa tỉnh, nàng mơ thấy mình nép vào gối cha kể hết mọi tủi thân, còn cha vỗ vai nàng, thở dài thật dài, rồi nói: “Vãn đã đóng thuyền.”
Cha trọng lời hứa, trọng thanh danh.
Lòng nàng lo sợ, sợ thật sự nghe được câu “ván đã đóng thuyền”.
Bởi vậy, nàng dần dần ốm yếu, nằm bệnh triền miên.
Cha nghe tin nàng bệnh nặng liền tới thăm, hôm ấy, nàng nhìn thấy một vị công tử áo gấm phong thái đường hoàng, cha nói, hắn chính là biểu ca bên ngoại của nàng, năm nay đỗ Thám hoa, được thánh thượng đặc biệt cho phép về quê bái tổ, khi đi ngang qua đây, cố tình đến thăm cha nàng, lại nghe nói nàng sinh bệnh, liền mời đại phu đến thăm cùng.
Nàng nhớ hồi nhỏ từng gặp hắn, nhưng cũng chỉ đôi ba lần, sau khi mẹ qua đời thì không còn gặp nữa.
Biểu ca mọi chuyện chu toàn, tính tình cũng rất sảng khoái, trước khi rời đi còn dặn nàng phải giữ gìn thân mình, khi ấy hắn dường như muốn nói gì nữa, nhưng chỉ thở dài, rồi dẫn tùy tùng đi mất.
Về sau, nàng nghe nói biểu ca làm quan ở vương đô, văn tài xuất chúng, lại thanh liêm chính trực, được mọi người yêu mến.
Còn nàng lại càng ngày càng bệnh nặng.
Nàng nhớ rõ đó là một buổi trưa nắng đẹp, có người gõ cửa nhà họ Ôn, vài người hầu từ vương đô mang theo một vị danh y vương đô tiến vào, lúc Ôn Vinh Sinh ra ngoài, một người hầu đưa cho nàng một phong thư.
Đó là tự tay biểu ca viết.
Nhìn thấy phong thư ấy, nàng mới biết được, hóa ra thuở mẹ còn sống từng định một mối hôn sự miệng giữa nàng và biểu ca, chỉ là sau khi cả mẹ lẫn dì đều qua đời, biểu ca lại gặp lúc gia cảnh sa sút, không còn ai nhắc đến nữa.
Biểu ca vốn định đợi ngày đề tên bảng vàng rồi sẽ đến trọn lời hẹn của mẹ và dì, nào ngờ, nàng đã cả cho người.
Trong thư biểu ca nói, có duyên không phận.
Hắn còn chúc nàng năm năm bình an, cả đời vô ưu.
Hôm ấy nàng nôn ra máu, máu thấm ướt nửa tờ giấy, nàng ngất đi, lúc tỉnh lại, liền thấy Ôn Vinh Sinh đang ngồi dưới ánh đèn đơn chiếc, gương mặt vốn ôn hòa ban ngày giờ chìm trong ánh đèn u tối, trong tay hắn siết chặt phong thư dính máu kia, quay đầu nhìn nàng, hỏi: “Trong lòng nàng có hối hận không?”
Nàng nói không ra tiếng, còn hắn cứ tiếp tục nói: “Nàng nhất định rất hối hận nhỉ, điều nàng muốn, chính là một người chồng như biểu ca nàng, đúng không? Nhìn hắn đề tên bảng vàng, nhìn hắn thăng chức, nhìn hắn đắc ý trong đời, nàng có phải đang nghĩ, nếu được gả cho hắn, thì tốt biết bao, đúng không?”
“Nàng cùng hắn qua lại thư từ bao lâu rồi?”
Gương mặt Ôn Vinh Sinh bị ánh nến lập lòe cắt thành những mảng méo mó: “Ta đoán, chắc chắn không chỉ có một phong này?”
“Triệu Phương Như, nàng phản bội ta!”
Hắn nghiến răng gằn từng tiếng.
Từ đó về sau, Ôn Vinh Sinh không hề nhìn nàng thêm lần nào, nàng yếu đến mức chẳng thể nói nổi một câu, thỉnh thoảng nàng nghe được giọng cha, rồi lại nghe Ôn Vinh Sinh cung kính mềm mỏng khuyên nhủ cha nàng, rằng nàng đầu tóc rối bời, không muốn gặp cha, nói rằng nàng đã khá hơn rồi, nàng không biết những âm thanh đó rốt cuộc là mơ hay thật.
Nhưng nàng nhớ rất rõ khoảnh khắc mình tắt thở, như có một tảng đá lớn đè nặng lên ngực, tất cả hơi thở đều bị ép dữ dội từ ngực phổi ra, đau đến mức ngũ tạng như vỡ nát, rồi nàng chật vật rơi vào màn đêm vô tận.
Sau đó… sau đó?
Nàng nhíu mày.
Nàng nhớ rồi, từ trong bóng đêm ấy, nàng đến Âm Ty, trên cầu Nại Hà, Mạnh bà moi ra chấp niệm trong đầu nàng, nói với nàng: “Chấp niệm quá nặng không phải chuyện tốt, đi đi.”
Sau đó, nàng đầu thai trở thành cháu gái nhỏ của Tạ thị lang, tên là Triều Yến.
Nàng như bừng tỉnh khỏi cơn mộng dài, phát hiện trên tay mình không hề vương một giọt máu nào, ngẩng mặt lên, chỉ thấy “Triệu Phương Như” đứng ở phía xa đã không còn dung mạo giống hệt nàng nữa.
Nàng ấy khoác áo trắng viền đỏ, tóc đen như mây, dung nhan rực rỡ đến cực điểm, đôi mắt long lanh ánh nước.
“… Cô nương A Hằng?”
Giọng Tạ Triều Yến khàn khàn, hơi chậm chạp cất lên.
“Tiểu thư Triều Yến,” A Hằng đóng vai Triệu Phương Như đến kiệt sức, nàng xoay nhẹ cổ giãn gân cốt, “rốt cuộc ‘ván đã đóng thuyền’ là có ý gì? Ta thật sự không hiểu, vì sao cô lại sợ hãi mấy chữ ấy đến vậy.”
Tạ Triều Yến theo bản năng nhìn về phía cặp nam nữ kia, nhưng bóng dáng họ trong khoảnh khắc đã tan thành khói, biến mất không còn, hồi lâu sau, nàng mới mở miệng, “Là sợi dây trói chặt tay chân ta, là miếng giẻ nhét kín miệng ta, là lưỡi dao đâm vào thân thể ta, là… số mệnh của nữ tử.”
A Hằng khựng lại, nghiêng đầu, nhìn đôi mắt mờ xám của Tạ Triều Yến: “Số mệnh gì chứ? Trời còn không thể định được đạo trời, nếu là ta, dây trói tay chân mình thì ta dùng răng cắn, cũng phải cắn đứt nó, giẻ nhét vào miệng ta, thì ta phải nghĩ mọi cách nhổ ra, dao đâm vào người ta, thì dù có kiệt sức ta cũng phải rút nó ra, đâm ngược lại kẻ ra tay, để hắn cũng nếm thử mùi vị ấy… vừa rồi tiểu thư Triều Yến chẳng phải đã làm rất tốt rồi sao?”
Tạ Triều Yến lập tức nhớ lại cảnh mình đâm lưỡi dao vào thân thể Ôn Vinh Sinh khi nãy, máu nóng chảy đầy tay, nàng cảm thấy đầu óc mình như sôi lên.
“Đó đều là giả.”
Tạ Triều Yến lẩm bẩm: “Không ai quan tâm đến cuộc đời ta, ta cũng chẳng thể làm chủ cuộc đời mình, ta là món hàng cha đem biếu, là vật phụ thuộc của Ôn Vinh Sinh, nước mắt của ta, tiếng kêu của ta, tất cả mọi thứ của ta, xưa nay đều nhỏ bé không đáng kể, cho nên kết cục của ta cũng chỉ có thể là chết trong thảm hại.”
“Nhưng dũng khí để cầm lấy con dao kia là thật.”
Tạ Triều Yến gần như chìm đắm trong kiếp sống chật vật của Triệu Phương Như, chợt nghe giọng A Hằng vang lên, nàng giật mình ngẩng đầu, chỉ thấy A Hằng đang bước về phía nàng, sau lưng A Hằng, núi rừng trở nên xa mờ, sương trắng gần như bao phủ.
“Cô không hiểu…”
Tạ Triều Yến trở nên kích động: “Cô chẳng hiểu gì cả!”
Trong làn sương mù, dần dần hiện ra một góc hẻm dài, trời âm u, mưa lất phất rơi, giọt mưa rơi trúng khe môi Tạ Triều Yến, nàng chợt sững người: “Mưa này… sao lại đắng?”
A Hằng liếc nàng một cái.
Nàng nhớ tiểu thần tiên từng nói, với tư cách là chủ nhân của giấc mộng, gió mưa trong mộng đều là sự ngoại hiện của cảm xúc trong lòng, nhưng lúc này Tạ Triều Yến lại thật sự nếm được vị đắng của cơn mưa ấy…
A Hằng xoay người, chỉ thấy núi rừng hóa thành hẻm nhỏ, trong hẻm có không ít người tụ tập trước một cánh cửa.
“Đây hình như là…”
Tạ Triều Yến nhìn rõ xung quanh, không khỏi nói: “Hình như là gần nhà ta?”
Chính xác hơn, là gần nhà mẹ đẻ của Triệu Phương Như ở kiếp trước.
A Hằng không nói gì, kéo nàng chen vào đám đông, chỉ thấy cổng sân đóng chặt, đúng lúc đó có người bên cạnh lên tiếng: “Tam nương nhà họ Lâm này được gả vào nhà công tử của vị Đại học sĩ ở vương đô, ấy là phúc phận tu mấy đời mới có, mới thành thân ba năm thôi mà? Sao lại đột nhiên một mình chạy về nhà mẹ đẻ rồi?”
“Ai mà biết được? Mẹ nàng ta miệng kín lắm, hỏi thế nào cũng không nói!”
“Chẳng lẽ bị ruồng bỏ rồi?”
“Tam nương từ nhỏ đã thích đọc sách, bụng đầy văn chương, nghe nói dung mạo lại cực kỳ xinh đẹp, so với tiểu thư nhà Triệu lão gia cũng tuyệt đối không kém, sao lại bị ruồng bỏ được?”
Bọn họ càng nói, lời đồn bị bỏ lại càng như đã thành sự thật.
“Lâm Tam nương…?” Tạ Triều Yến mơ hồ nhớ lại, kiếp trước nàng hình như từng nghe nhắc đến vị Lâm Tam nương này, nhà Triệu và nhà Lâm cách nhau không xa, mà Lâm lão gia cũng từng cáo lão từ quan ở vương đô, cũng xem như đồng liêu cũ của Triệu lão gia, nhưng hai nhà xưa nay không qua lại nhiều, nên kiếp trước Tạ Triều Yến chưa từng gặp vị Lâm Tam nương này.
Về sau gả cho Ôn Vinh Sinh, lúc về thăm nhà mẹ đẻ, nàng mới nghe người ta nhắc thoáng qua, nói Tam nương nhà họ Lâm đã gả lên vương đô, làm vợ của công tử Hạ học sĩ.
Chẳng bao lâu đám người cũng tản đi, A Hằng kéo Tạ Triều Yến trèo tường vào sân, mấy bước chạy đến dưới cửa sổ, khom người nép sát dưới song cửa, từ cửa sổ hé mở, mơ hồ truyền ra tiếng nói chuyện.
A Hằng ngẩng đầu, nhìn vào trong phòng, chỉ thấy một nữ tử quay lưng về phía họ, ngồi bên án thư, trông nữ tử còn rất trẻ, bóng lưng thẳng tắp, như một khóm tùng trúc.
“Con có biết con tùy tiện chạy về như vậy, nhà họ Lâm ta sẽ phải hứng chịu bao nhiêu lời đám tiếu không!”
Giọng một lão giả chừng năm mươi tuổi, mặc áo trường bào xám, không giấu nổi tức giận.
Nữ tử kia im lặng không đáp.
Bên cạnh một người đàn bà chừng bốn mươi tuổi vội nắm lấy tay người kia mà khuyên nhủ: “Lão gia, với bên ngoài chúng ta cứ nói Tam nương trở về thăm chúng ta, ai có thể nói gì được chứ?”
“Thăm? Thăm nhà mà không mang theo lấy một nha hoàn? Con rể cũng không đi cùng, chỉ một mình nó chạy về, còn ra thể thống gì!” Lâm lão gia vốn nóng tính, giọng lại càng lớn.
Lâm phu nhân vội nói: “Ở vài ngày rồi Tam nương cũng sẽ trở về, hà tất phải như vậy…”
“Con không về.”
Nữ tử ngồi ngay ngắn trước án thư bỗng lên tiếng.
Lâm lão gia sững người trong giây lát, rồi giận dữ trừng mắt, mấy bước lao tới, giật lấy cuốn sách trong tay nàng xé nát thành từng mảnh: “Con nói cái gì? Nói lại lần nữa xem! Từ bao giờ con lại tùy hứng như này, đến mức không thèm để ý lễ pháp? Hôn sự này năm đó chính con gật đầu, nay một mình chạy về là có ý gì?”
Nữ tử cúi đầu, nhìn những mảnh giấy vụn dưới đất, trên đó lờ mờ còn sót lại hàng chữ — “Sĩ chi đam hề, do khả thuế dã.”*
Nữ chi đam hề, bất khả thuế dã.*
(*) Trai mà mê gái đảo điên, Cũng còn giải thoát cho yên bề.
(*) Gái theo trai lòng mê đắm đuối, Không thể nào còn lối thoát đâu.
Bài thơ Manh 3 trong Kinh thi của Khổng Từ, bản dịch của Tạ Quang Phát.
Ánh mắt nàng khẽ lay động, khẽ giọng nói: “Cha, chỉ vì con nhìn lầm người, nên không còn quyền hối hận nữa sao?”
“Đúng, không có!”
Lâm lão gia lạnh lùng nói: “Năm đó ta đã hỏi con rồi, là con tự nguyện, hôn sự là chuyện cả đời, nửa đường đổi ý chính là bất trung bất nghĩa, con muốn để người ngoài chĩa ngón tay chọc vào xương sống con sao!”
Tạ Triều Yến nấp dưới cửa sổ, thấy nữ tử kia quay mặt lại.
Đó lại chính là gương mặt của Tạ Đạm Vân!
Tạ Đạm Vân… chính là Lâm Tam nương?
Tạ Triều Yến ngây ngẩn cả người.
A Hằng nhìn thấy gương mặt đó, nàng liền hiểu, Tạ Triều Yến và Tạ Đạm Vân không biết vì nguyên do gì, có lẽ là do con hồ yêu kia, mà giấc mộng của hai người lại đan xen nối liền với nhau.
Mưa sương bỗng dày đặc, trời tối sầm lại.
Trong màn đêm nồng đậm, A Hằng thấy Lâm Tam nương đẩy cửa phòng, trên vai đeo một bọc đồ mà bước ra ngoài, nhưng chưa đi được mấy bước, thì đã bị đám nha hoàn cầm đèn lồng vây lại, sau đó, Lâm lão gia từ trong bóng tối bước ra, Lâm phu nhân đứng cạnh ông đau lòng nhìn sắc mặt con gái trắng bệch, liền há miệng khuyên nhủ: “Lão gia, con gái ắt là chịu uất ức, cho nên mới…”
“Chịu uất ức thì sao không nói? Nếu Hạ Minh làm sai, nhà họ Lâm ta đương nhiên phải đòi lại công đạo, nhưng nó cứ lặng lẽ bỏ về thế này, đâu giống tác phong của khuê nữ?”
Lâm lão gia vừa nói vừa giơ tay, gọi mấy nha hoàn: “Người đâu, trói tiểu thư lại, đưa lên xe ngựa!”
A Hằng trơ mắt nhìn Lâm Tam nương bị trói chặt, nhét vào cỗ xe ngựa ngoài cổng phủ, hơn mấy chục hộ viện biết võ đứng canh hai bên xe, chẳng bao lâu sau lại có người tự xưng là tiêu cục gì đó tới, quân số lên đến cả trăm người, Lâm lão gia trả bạc, ngồi trên xe, được trăm người ấy hộ tống, trong đêm thẳng hướng vương đô mà đi.
Đèn lồng trên xe lắc lư, rèm xe bị gió đêm thổi tung, A Hằng nhìn thấy Lâm Tam nương bên trong, trong lòng nàng dâng lên một cảm giác vô cùng phức tạp, bởi những dây trói, giẻ nhét miệng mà Tạ Triều Yến từng nói, lúc này đều hóa thành hiện thực trên người Lâm Tam nương.
Trong mắt Lâm Tam nương ngập nước, nhưng nàng ta không thể phát ra lấy một tiếng.
A Hằng đuổi theo cỗ xe ngựa xuyên qua màn mưa mù mịt, chớp mắt lại thấy mình đã đứng trong một tòa đại trạch rộng lớn, trong sân hoa cỏ um tùm, dưới màn đêm dày đặc, trăm ngọn đèn lồng rực rỡ như mây ráng, chiếu sáng hành lang, cửa lớn sơn xanh mở toang, trong phòng ánh nến ấm áp dịu dàng, màn trướng nhạt màu che nửa, người nằm trên giường phía sau màn chỉ thấy lờ mờ hình dáng, Lâm Tam nương ngồi bên mép giường, tóc búi đã lỏng, không mang trâm cài, toàn thân vận váy áo nhã nhặn giản dị, một tay nàng đặt lên góc chăn, trên cổ tay thon trắng đeo chiếc vòng ngọc xanh biếc óng ánh, A Hằng chỉ nhìn thấy sườn mặt nàng ta, đã nhận ra nàng ta so với lúc trước dường như càng thêm gầy gò, yếu ớt.
Từ cỗ xe ngựa kia đến nơi thâm trạch này, trong mộng chỉ là một hơi thở, nhưng đã mài mòn mấy năm thanh xuân của Lâm Tam nương.
“Thứ cho bần đạo nói thẳng, lệnh lang như vậy, không phải do bệnh tật thông thường, thế nên thuốc men mới vô phương cứu chữa.” một đạo sĩ trung niên đứng giữa một đám người, phất trần khẽ vung, sắc mặt dường như nặng nề.
“Đạo trưởng nói vậy là ý gì?”
Một người hơi đứng tuổi chừng năm mươi tuổi, khoác cầm bào hoa lệ, từ ghế thái sư đứng dậy.
“Hạ đại nhân.”
Đạo sĩ ấy hơi cúi đầu, tiếp tục nói: “Ta xem sắc mặt lệnh lang trắng bệch, mạch tượng rối loạn như tơ, thảo nào y giả tầm thường không chẩn ra bệnh, bởi vì mạch tượng này thực chất là quỷ mạch!”
“Quỷ mạch?”
Hạ phu nhân vừa nghe hai chữ ấy, tim đã đập thình thịch: “Ý của đạo trưởng là, con trai ta là bị quỷ mị quấn thân?”
Đạo sĩ lắc đầu: “Không phải.”
“Quỷ mạch không nhất thiết phải do quỷ mị gây ra, hiện giờ lệnh lang trông thì thân thể còn nguyên vẹn, nhưng thực chất tinh khí đã cạn kiệt hoàn toàn, khiến lục phủ ngũ tạng suy bại nhanh chóng, như ngọn đèn trước gió, chỉ còn thoi thóp, ta xem mạch tượng cùng sắc mặt của công tử, kết luận rằng, lệnh lang nhất định đã dây dưa với yêu nghiệt trong thời gian dài, ít nhất cũng trên ba năm.”
“… Cái gì?”
Hạ phu nhân sững sờ.
Bà hoàn toàn không hiểu những chuyện này, nhưng khi nhìn sang con dâu đang ngồi bất động như núi bên mép giường, thấy nàng rũ mắt, vẻ mặt dường như bình tĩnh, không hề lộ ra chút kinh ngạc nào trước lời nói của đạo trưởng.
“Tam nương, lẽ nào con đã sớm biết rồi?”
Hạ phu nhân không nhịn được mà lên tiếng.
Lâm Tam nương ngẩng mắt, đối diện ánh nhìn dò xét của Hạ phu nhân, nàng khựng lại một chút, không nói lời nào, Hạ phu nhân lập tức cau mày, chất vấn: “Tam nương! Con làm dâu kiểu gì vậy? Rõ ràng biết chồng mình dây dưa với yêu nghiệt, vậy mà con không biết khuyên can, còn giấu giếm cả nhà chúng ta sao?”
“Đủ rồi!” lúc này đâu còn là lúc quở trách con dâu, Hạ học sĩ mất kiên nhẫn cắt ngang bà, giọng đầy sốt ruột hỏi: “Đạo trưởng, không biết quỷ mạch này có cách nào hóa giải không?”
Đạo sĩ mặt lộ vẻ khó xử, thở dài: “Tinh khí của con người rất quan trọng, nếu lúc trước lệnh lang phát hiện thân thể có điều bất ổn mà kịp thời quay đầu, thì còn có thể cứu vãn, nhưng đáng tiếc trong ba năm qua, tinh khí của lệnh lang đã hao tổn sạch sẽ, bần đạo lực bất tòng tâm.”
“Ý đạo trưởng là, con ta, con ta…”
Hạ phu nhân run rẩy mở miệng.
Sắc mặt Hạ học sĩ cũng thay đổi, ông đột ngột quay đầu nhìn đứa con trai đang thoi thóp trên giường bệnh, đó là cốt nhục duy nhất của ông, tim ông đau như bị dao cắt, hàm dưới siết chặt.
Hạ phu nhân suýt nữa ngất đi, nha hoàn bên cạnh vội đỡ lấy bà, trong cơn mê man bà nhìn thấy Lâm Tam nương vẫn ngồi bên mép giường, không nói một lời, vẻ mặt không buồn không vui ấy như mũi kim đâm vào thần kinh mong manh của Hạ phu nhân, bà lao tới, đột ngột túm lấy tay Lâm Tam nương, the thé quát: “Minh Nhi dây dưa với yêu nghiệt, vì sao con biết mà không báo? Rốt cuộc con ôm tâm địa gì?”
“Mẹ, mẹ…”
Trên giường, thanh niên thân thể gầy yếu đến mức chỉ còn da bọc xương gắng gượng nắm lấy cổ tay Lâm Tam nương bên mép giường, đôi môi trắng bệch run rẩy, hắn dốc hết sức nói từng chữ: “Mẹ, không liên quan đến Tam nương.”
Hạ phu nhân nghe thấy giọng con trai yếu ớt, nước mắt trào ra như mưa, nhất thời không còn lôi kéo Lâm Tam nương nữa: “Con ơi, con của ta…”
“Là con,”
Lời của Hạ Minh là nói với Hạ phu nhân, nhưng ánh mắt lại dán chặt vào Lâm Tam nương bên giường: “là con bảo Tam nương không được nói với mọi người, là con nhất thời hồ đồ dây dưa không dứt với yêu nghiệt ấy, con rơi vào cảnh ngộ hôm nay, là con tự làm tự chịu…”
Hàng mi của Lâm Tam nương khẽ động, đối diện ánh mắt hắn.
Người nằm trên giường bệnh kia, là chồng nàng, nàng từng thấy dáng vẻ hắn rạng rỡ sáng sủa nhất, thế nhưng giờ đây, hắn nằm trên giường đó, yếu ớt đến mức dù được chăn gấm đắp lên cũng như bị đá lớn đè ép, thân thể hắn gầy gò đến đáng sợ, bộ xương vốn thanh tú vì thiếu máu thịt mà lộ rõ, phong thái năm xưa không còn nữa.
“Tam nương.”
Hắn bỗng khẽ gọi.
“Vừa rồi ta cảm thấy có một luồng hơi nóng từ gan bàn chân dâng lên, sau đó trong đầu ta hiện ra rất nhiều hình ảnh, từ thuở nhỏ đến lớn, từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ, niềm vui nỗi buồn của ta đều rõ ràng như mới hôm qua, những sai lầm ta từng phạm phải, như than hồng cháy đỏ chui thẳng vào tim ta…”
Hắn như lẩm bẩm, đứt quãng nói ra cảm nhận của mình, rồi tiếp tục nói với nàng: “Ta nhớ lại quãng thời gian chúng ta mới thành hôn, khi ấy ta cảm thấy nàng là nữ tử tốt đẹp nhất trên đời, ta cùng nàng lén bàn chuyện triều chính trong khuê phòng, vẽ mày cho nàng, đề thơ họa tranh cùng nàng, đã từng, ta kính phục văn tài của nàng, trân quý nhân phẩm của nàng đến nhường nào.”
“Ta biết nàng đôi khi cũng viết sách luận chính sự, giấu kín trong khuê phòng không cho ai xem, ta không rõ vì sao mình lại lén tìm ra đọc, cũng không rõ, vì sao lại đem chúng dâng cho người khác…”
Môi Hạ Minh run rẩy: “Tam nương, ta biết ta rất yêu nàng, nhưng khi mọi người đều tưởng bài sách luận ấy là của ta, khi ai nấy đều tin rằng ta nhất định sẽ được trọng dụng, trong lòng ta ngoài xấu hổ ra, lại… nảy sinh đố kỵ nàng, ghen ghét nàng rõ ràng là nữ tử, lại mang tài hoa mà ta cả đời không với tới, ta hận chính mình, vì sao lại không bằng nàng.”
“Một bên hận nàng, một bên lại lôi thơ văn của nàng ra ngoài, lên triều đình để tô điểm cho danh tiếng của ta,” Hạ Minh thở dốc rất lâu, mới lại cất tiếng, “cũng vì nàng, thánh thượng mới để mắt đến ta, cũng vì nàng, trong buổi thi hội dưới trăng ta mới có thể quen biết với hồ nữ kia, ta chìm đắm trong dung mạo và sự đa tình của nàng ấy, dùng thơ văn của nàng, giả làm tri kỷ của nàng ấy.”
“Tam nương, ta sắp chết rồi.”
Hạ Minh nhìn nàng, ký ức về nàng trong đầu hắn càng lúc càng rõ ràng, lồng ngực như bị than hồng thiêu đốt máu thịt, đau đến không chịu nổi, hắn nhớ đến nàng khi mới thành hôn từng kiều diễm rực rỡ biết bao, mà nay, nàng ngay ngắn ngồi trước mặt hắn, lại như mang theo tất cả tất cả cái lạnh lẽo thanh bần của thế gian, phủ kín lên đôi mày đôi mắt.
Trong hốc mắt dâng lên làn nước, giọng Hạ Minh khàn khàn lại nghẹn ngào: “Là ta không tốt, rõ ràng ta yêu nàng, yêu văn tài của nàng, yêu tất cả của nàng, nhưng về sau, ta lại hận nàng, hận văn tài của nàng, hận tất cả của nàng, Tam nương, xin lỗi, ta đã phụ nàng, ta không phải là người chồng như nàng từng mong đợi, mong rằng sau khi ta chết, nếu nàng gặp được người tốt, thì hãy tái giá.”
Nước mắt Hạ Minh tràn đầy, hắn gần như không nhìn rõ khuôn mặt Tam nương, chỉ có thể thảm thiết gọi: “Tam nương, Tam nương…”
Trong mơ hồ, hắn vẫn không phân rõ được dung mạo Tam nương, chỉ nghe giữa tiếng khóc nức nở của mẹ, giọng nói bình thản của Tam nương vang lên:
“Được.”
Chỉ một chữ.
Lạnh lẽo đến cùng cực.
Nhưng mọi sự hôm nay, vốn chính là nghiệt hắn gieo, trong lồng ngực Hạ Minh, nỗi bi ai cuộn trào như sóng lớn, dâng lên không kìm được, toàn thân hắn khẽ run, mí mắt chậm rãi khép lại, nước mắt theo khóe mắt trượt xuống gò má.
“Đạo trưởng!”
Hạ phu nhân thấy hai mắt con trai sắp khép lại, liền quay người bổ nhào đến trước mặt đạo sĩ, túm lấy vạt áo hắn, khóc lóc cầu xin trong tuyệt vọng: “Xin ngài! Xin ngài cứu lấy con ta!”
“Đạo trưởng, nếu ngài có thể cứu con trai ta một mạng, bất kể đạo trưởng ngài muốn thứ gì, ta đều hai tay dâng lên, tuyệt không chối từ! Không chỉ vậy, đạo quán của đạo trưởng, ta sẽ năm nào cũng cung phụng hương khói!” Hạ học sĩ từ trước đến nay luôn trầm tĩnh cũng mất hết chủ ý, liên tiếp cúi người vái lạy đạo sĩ.
Đạo sĩ chỉ thở dài một tiếng, khom người cáo từ.
Trong chốc lát, cả gian phòng ngập trong tiếng khóc.
“Lẽ nào, lẽ nào con ta thật sự mệnh trời đã định như vậy sao!” Hạ phu nhân khóc đến không kìm nén được, bà quay người lại, thấy Lâm Tam nương vẫn ngồi bên mép giường, dường như ngẩn ngơ nhìn Hạ Minh trên giường bệnh, trên gương mặt lại không hề có chút biểu cảm nào, trong lòng Hạ phu nhân bi phẫn đan xen, bà sải bước tới, giơ tay tát mạnh một cái, “Con tiện phụ này! Con ta sắp lâm chung, vậy mà mày, mày lại thật sự đáp ứng chuyện tái giá, nói đi, có phải mày đã sớm bất trung với con ta rồi không?!”
Cái tát ấy nặng vô cùng.
Gương mặt Lâm Tam nương bị đánh lệch sang một bên, rất nhanh, trên làn da vốn đã tái nhợt nổi lên vết tay đỏ rực, Hạ phu nhân túm chặt vạt áo nàng, đôi mắt khóc đỏ trở nên dữ tợn đến đáng sợ: “Muốn tái giá? Nằm mơ đi! Con ta chết rồi, cô cũng là người của nhà họ Hạ ta, cả đời này cô phải thủ tiết vì nó!”
“Dừng tay! Mụ đàn bà độc ác!”
A Hằng nghe thấy một giọng nữ phẫn nộ, nàng liếc sang Tạ Triều Yến bên cạnh, chỉ thấy nàng trợn tròn mắt, lao ra muốn ngăn cản Hạ phu nhân tiếp tục nhục mạ Lâm Tam nương, thế nhưng thân thể nàng lại xuyên thẳng qua hai người, còn tiếng nói thì không một ai nghe thấy.
“Lão gia, phu nhân, ngoài cửa có một bà lão ăn mặc rách rưới, bà ta nói, bà ta nói bà ta có cách cứu thiếu gia!”
Đúng lúc ấy, một nô bộc chạy vội vào, thở hổn hển lớn tiếng bẩm báo.
Hạ học sĩ lập tức tinh thần chấn động, vội nói: “Mau mời vào!”
“Bà lão ấy đã đi rồi, bà ta nói thời gian rất gấp, quỷ mạch này là do tình cảm nam nữ gây ra, nếu lão gia thật sự muốn cứu thiếu gia, thì phải lấy sợi đồng tâm cắt ra khi thiếu gia và… và thiếu phu nhân thành thân, trộn với vật này, đặt vào lư hương mà đốt, rồi đem lư hương đặt gần thiếu gia.”
Nô bộc vừa nói vừa dâng lên một nén hương.
Hạ học sĩ nhận lấy nén hương kia, thấy nén hương này trông không khác gì hương thường, ông vẫn còn nghi hoặc: “Chỉ như vậy là có thể cứu được Minh Nhi sao?”
Nô bộc đáp: “Bà lão còn nói, hương này chỉ có thể tạm thời giữ lại mạng sống cho thiếu gia, sau đó còn cần thiếu phu nhân đích thân lấy tro hương vo thành một khối, nhưng tro hương này cực khó vo lại, nếu không phải thật tâm thì không thể làm được, chỉ khi thiếu phu nhân cam tâm tình nguyện cứu thiếu gia, thiếu gia mới có thể tỉnh lại.”
Sắc mặt Hạ phu nhân cứng lại, bà quay đầu, nhìn Lâm Tam nương bên giường, Hạ học sĩ chau chặt mày, trầm giọng nói: “Giờ chỉ còn cách thử một lần!”
Ông nhìn con dâu: “Tam nương, ta biết Minh Nhi có lỗi với con, nhưng vừa rồi nó như vậy, chẳng lẽ không xem là thật lòng hối hận sao? Vợ chồng vốn là một thể, con có oán nó, hận nó thế nào, lẽ nào thật sự nhẫn tâm trơ mắt nhìn nó chết?”
Lâm Tam nương nhìn Hạ Minh trên giường, không nói lời nào, cũng không động đậy, các nô bộc lập tức nhanh tay đốt nén hương trộn với sợi đồng tâm lấy từ dưới gối, đặt lư hương cạnh giường, Hạ phu nhân thấy sắc mặt con trai quả nhiên khá hơn đôi chút, liền bịch một tiếng quỳ sụp xuống trước mặt Lâm Tam nương, nắm lấy tay nàng: “Tam nương, Tam nương à… trong lòng con có oán thì cứ đánh mắng ta cũng được, vừa rồi ta thật sự quá sợ mất Minh Nhi… dù Minh Nhi có làm chuyện hồ đồ, thì cũng là bị yêu nghiệt mê hoặc, từ trước đến giờ nó đối xử với con thế nào, con đều không nhớ sao? Con thích đọc sách, chính tay nó sắp xếp thư phòng cho con, con thích cây quế, nó cũng cho người trồng đầy trong vườn, nó nhớ con thích ăn gì, không thích ăn gì, nó còn để con giả trang thành nam tử, dẫn con lén đi thi hội thơ, quậy phá khắp nơi, khi trở về bị đánh, nó nhất quyết đòi đánh chung cả phần của con lẫn của nó… Tam nương, những điều ấy, cũng đều xuất phát từ tấm chân tình của nó mà!”
Ánh mắt Lâm Tam nương khẽ động.
Năm ấy, nàng mới mười bảy tuổi, còn chồng nàng Hạ Minh, cũng chỉ là một thiếu niên mười bảy tuổi.
Khi đó, hắn thường lén đưa nàng ra khỏi phủ, tại thi hội thơ thì xưng là huynh đệ họ, giữa lúc mọi người chè chén say sưa, hai người lén nhìn nhau, mỉm cười đầy ăn ý.
Tam nương từng nghĩ rằng, gia quy tuy nghiêm khắc, nhưng nhờ có Minh lang, nàng vẫn luôn có được một khoảng thở cho riêng mình.
“Tam nương, lẽ nào con thật sự nhẫn tâm đến vậy sao?” Hạ học sĩ thấy nàng vẫn thờ ơ, sắc mặt càng thêm nóng nảy: “Cho dù con không nghĩ cho Minh Nhi, chẳng lẽ cũng không nghĩ đến cha mẹ chồng, dù chỉ vì chính bản thân, Minh Nhi hôm nay mà chết, ngày sau tiếng xấu thấy chết không cứu của con đối với chồng truyền ra ngoài, người đời sẽ nhìn con ra sao? Còn nhà họ Lâm của con phải tự xử thế nào?”
Nhà họ Lâm.
Lâm Tam nương nhớ tới cha mình, nhớ tới dáng vẻ một năm trước khi ông đích thân trói nàng đưa tới vương đô, nhưng rốt cuộc ông vẫn giữ cho nàng thể diện, trước khi bước vào phủ Hạ cởi trói cho nàng, còn đưa tay vuốt nhẹ mái tóc nàng, nói: “Tam nương, thiên hạ này, đâu chỉ mình con là không có tự do, trên đời này không ai là không bị trói buộc cả, con người một khi đã lựa chọn, thì phải gánh lấy hậu quả.”
Lâm Tam nương chậm rãi nhắm mắt, khẽ nói: “Đợi khi tro hương cháy hết, con nhất định sẽ thành tâm chế dược.”
Làn khói sinh ra từ viên hương hoàn dường như quả thật có tác dụng rất lớn, Hạ phu nhân ngày đêm không ngủ mà canh giữ bên giường, sợ hơi thở của con trai sẽ đứt đoạn, A Hằng tựa bên khung cửa sơn xanh, nhìn Lâm Tam nương ngồi bên bàn đổ tro hương trắng như tuyết trong lư hương ra, quả đúng như lời bà lão kia nói, tro hương này mặc cho nàng vo thế nào cũng trơn mịn như cát, khó lòng kết tụ, dù có cho thêm nước, thêm dầu, thậm chí cả mật hoa gì đó tất cả đều vô dụng.
Một chiếc bàn hẹp, một ngọn đèn cô độc, Lâm Tam nương lặp đi lặp lại cùng một động tác, từ ban ngày đến đêm tối, rồi lại từ đêm tối sang ban ngày, tro hương chẳng những không thành hình, mà còn tỏa ra một mùi hôi thối khó tả, Hạ phu nhân bị mùi ấy ép đến mức phải chạy ra ngoài nôn mửa mấy lần, nhưng vẫn không quên nghiêm lệnh cho bọn nha hoàn đóng chặt cửa phòng.
Lâm Tam nương quay mặt sang một bên, ánh đèn mờ tối chiếu lên gương mặt gầy gò tái nhợt của nàng, ánh mắt nàng rất lâu dừng lại trên cánh cửa sơn xanh kia.
Nàng dường như vẫn bình thản.
Nhưng A Hằng nhìn gương mặt ấy, lại luôn cảm thấy đó chỉ là một lớp vỏ ngoài, giống như mặt sông phủ một tầng băng mỏng, chỉ cần chạm nhẹ, liền có thể thấy sóng ngầm cuồn cuộn phía dưới.
Quả nhiên, ngay khoảnh khắc tiếp theo, A Hằng thấy gân cốt trên bàn tay đang vo tro hương của nàng căng cứng đến trắng bệch, khớp ngón tay lộ rõ, “bịch” một tiếng khẽ vang lên, một giọt nước rơi xuống mặt bàn.
Trên mặt nàng không có nhiều biểu cảm, nhưng đó tuyệt đối không phải là lạnh lùng, mà là tê dại.
Trong hốc mắt đỏ au, từng giọt nước mắt rơi xuống, trượt dọc theo gò má nàng, nhỏ vào đống tro hương, nàng hoàn toàn không hay biết, chỉ lặp lại động tác trong tay.
Nước mắt nàng, mồ hôi nàng, không ngừng rơi vào tro hương.
Dần dần, tro hương trở nên dính nhớp, trở nên đục bẩn, như thứ dơ bẩn và ghê tởm nhất trên đời, làm bẩn đôi tay nàng, tràn ngập hơi thở nàng.
Ánh sớm vừa hé.
Bọn nha hoàn canh ngoài cửa mở cửa phòng, Hạ phu nhân che mũi miệng vội vàng bước vào, chỉ thấy ngọn nến tàn trên bàn đã tắt, còn Tam nương ngồi ngay ngắn trước bàn, trước mặt nàng đặt một viên thuốc đen sì.
Trong ánh trời xanh xám mờ nhạt, bề mặt viên thuốc kia dường như phủ một lớp ánh bóng lấp lánh.
“Thuốc thành rồi!”
Hạ phu nhân vui mừng khôn xiết, bước nhanh tới, nhưng lập tức bị mùi hôi xộc thẳng khiến cho choáng váng, phải bám vào tay nha hoàn mới đứng vững, run rẩy môi, nhìn con dâu: “Tam nương, mau, mau cho Minh Nhi uống thuốc!”
“Vâng, mẹ.”
Lâm Tam nương đứng dậy, bàn tay run rẩy không ngừng của nàng miễn cưỡng kẹp lấy viên thuốc, nàng đi tới bên giường, ngồi xuống, sắc mặt Hạ Minh đã bắt đầu xấu đi, đủ thấy hiệu quả của mùi hương sắp hết.
Lâm Tam nương nhìn hắn, cầm viên thuốc, đưa tới khe môi tái nhợt của hắn.
“Cô thực sự muốn cứu hắn sao?”
Bỗng nhiên, một giọng nữ vang lên bên tai Lâm Tam nương.
Lâm Tam nương giật mình quay đầu, bất ngờ đối diện với một đôi mắt sáng ngời ở gần trong gang tấc, thiếu nữ áo trắng cổ viền đỏ, quanh thân có làn sương đỏ nhàn nhạt, nàng liếc nhìn bàn tay run rẩy của Lâm Tam nương vì ngày đêm vo thuốc, nàng khẽ ngửi, lại không cảm nhận được chút mùi nào, xem ra, ngoài mộng cảnh này hẳn đang là ban ngày, ánh mắt nàng dời từ tay Lâm Tam nương sang gương mặt gầy yếu bệnh tật của Hạ Minh: “Người đàn ông này khiến cô đau khổ đến vậy, trong lòng cô oán hận hắn, thế mà vẫn muốn cứu hắn?”
Lâm Tam nương không biết nàng là ai, cũng không hiểu vì sao nàng đột ngột xuất hiện, ngoại trừ bản thân nàng, đương như không ai trong phòng nhận ra sự tồn tại của người này.
“Quân tâm như thủy thiên ban lưu, thiếp tâm tòng lai nhất mệnh hưu.”*
(*) Chàng có lòng như nước trời chảy mãi, thiếp có tâm từ xưa đến nay chỉ một đời người thôi. Ý nói tình cảm bền chặt, vĩnh cửu, chỉ thay đổi khi trời đất diệt vong hoặc đến lúc chết đi, thể hiện lòng chung thủy sắt son, nguyện thề non hẹn biển.
Lâm Tam nương chẳng rõ nàng là ai, nhưng như bị ma xui quỷ khiến mà đáp nàng.
A Hằng cau mày, còn chưa kịp nói gì, đã nghe Lâm Tam nương tiếp tục: “Là ta tự mình chọn con đường này, dù chỉ liếc mắt đã thấy được kết cục, ta cũng không thể hối hận, huống chi, Minh lang từng thật lòng đối đãi với ta, ta không thể trơ mắt nhìn chàng chết.”
“Tam nương! Con còn chờ gì nữa!”
Hạ phu nhân hoàn toàn không hay biết, cũng không nghe rõ Lâm Tam nương lẩm bẩm điều gì, thấy nàng chần chừ mãi chưa cho Hạ Minh uống thuốc, bà liền sốt ruột thúc giục.
Lâm Tam nương đưa viên thuốc sát vào môi Hạ Minh, mắt thấy sắp cạy mở hàm răng.
“Tạ Đạm Vân.”
A Hằng bỗng lạnh giọng gọi.
Lâm Tam nương chỉ cảm thấy tai như bị kim châm, bàn tay cũng khựng lại, nàng mờ mịt đối diện ánh mắt A Hằng, chỉ nghe A Hằng nói: “Cô muốn quay lại làm Lâm Tam nương lần nữa sao? Chỉ vì cái gọi là chân tình mà tên đàn ông thối tha kia từng có? Trái tim con người đâu phải cái nào cũng tốt đẹp, trái tim của hắn, chắc chắn là thối nát, mục ruỗng, khi cô vo thuốc cho hắn chẳng lẽ còn chưa nhìn rõ sao? Hắn bẩn đến mức nào, nên mới phải dùng thứ dơ bẩn nhất trên đời để cứu lấy cái mạng rữa nát của hắn, cô cho hắn nuốt viên thuốc này xuống, từ nay về sau, cô sẽ cùng hắn mục ruỗng luôn đi…”
A Hằng áp sát lại, như thì thầm, nhưng lạnh lẽo đến thấu xương: “Dù sao thì, từ trước đến nay cô cũng chưa từng quan tâm đến chính mình, chẳng phải sao?”
Đồng tử Lâm Tam nương chấn động, toàn thân như bị hơi lạnh quấn chặt, nàng run rẩy không ngừng, A Hằng chậm rãi mỉm cười, bàn tay lạnh lẽo nắm lấy cổ tay nàng, nói: “Chỉ cần hắn nuốt viên thuốc này xuống, từ nay về sau, cô và hắn sẽ mãi mãi là một đôi vợ chồng tốt đẹp… làm vợ hắn, làm con dâu nhà họ Hạ, làm một con gái ngoan của cha mẹ cô.”
Mãi mãi.
Lam Tam nương tựa như bị hai chữ* ấy bóp chặt cổ họng, chỉ cần đem viên thuốc nàng đã dốc cạn tâm can mới vo được này cho Minh lang uống xuống, từ nay về sau, nàng vẫn là vợ hắn, là con dâu nhà họ Hạ, là đứa con gái ngoan của cha mẹ, nhưng, nhưng mà…”
(*) Trong câu gốc là 永永远远/ Vĩnh vĩnh viễn viễn, nên tác giả viết bốn chữ, nhưng qua bản chuyển ngữ mình để là mãi mãi, nên cũng đổi sang hai chữ cho hợp hơn, nếu để bốn chữ đúng raw thì thấy hơi cấn.
Đột nhiên Lâm Tam nương cảm thấy tim phổi đau dữ dội, cơn đau ấy, giống như bị lưỡi dao sắc đâm xuyên, khoét ra một lỗ máu, mà người cầm con dao ấy, là chính tay nàng.
Là nàng, tự giết chính mình.
“Tạ Đạm Vân! Cô còn do dự điều gì nữa?”
A Hằng lạnh giọng nói, nắm lấy cổ tay nàng kéo về phía trước, viên thuốc đen sì đã cạy mở răng của Hạ Minh, sắp bị đẩy sâu vào trong, nhưng Lâm Tam nương đột nhiên phát ra một tiếng thét thê lương: “Không! Không!”
Nàng như phát điên giằng khỏi tay A Hằng, viên thuốc đen sì ấy tựa như than hồng, bị nàng vung tay ném đi, đôi mắt đỏ ngầu, nàng gào lên trong mất kiểm soát: “Đừng ép ta, cô nương A Hằng! Xin đừng ép ta!”
A Hằng chỉ đứng bên giường, nhìn nàng.
Lâm Tam nương bỗng nhiên bình tĩnh lại.
Nàng phát hiện Hạ phu nhân cùng đám nha hoàn đều bị định thân, không nhúc nhích, nàng ngơ ngác cúi mắt, rồi chậm rãi đưa tay sờ lên mặt mình.
Nàng phát hiện, mình không còn ngửi thấy mùi hôi thối ấy nữa.
Nàng nhớ ra, mình dường như không phải Lâm Tam nương, không, nàng từng là, nàng nhớ rõ bố cục căn phòng này, nhớ viên thuốc kia, cũng nhớ rằng mình từng thật sự dao động vì chân tình thuở trước của người chồng Hạ Minh, vì lời sám hối trước lúc chết của hắn, nàng cam tâm tình nguyện vo thuốc cho hắn, cam tâm tình nguyện đút hắn ăn.
Sau đó, Hạ Minh quả thật nhặt lại được một mạng, rồi tiếp đó, Hạ Minh quên sạch những lời sám hối khi hấp hối, quên cả lúc hắn nắm tay nàng run rẩy khóc lóc, nhưng ngược lại nhớ rất rõ hắn rằng nói sau khi chết, mong nàng gặp được lương nhân, gửi gắm cả đời, nàng chính miệng đồng ý mà nói chữ “được” ấy.
Chữ “được” ấy trở thành cái gai trong lòng hắn, vĩnh viễn chắn ngang giữa hai người.
Từ đó về sau, Hạ Minh không còn dây dưa với yêu nghiệt, nhưng lại lún sâu vào chốn hồng trần, chưa từng vì nàng mà dừng bước.
“Tam nương, lão thân có lòng ban thuốc, sao ngươi lại độc ác đến vậy, lại không chịu chồng mình?”
Một giọng nói khàn khàn, già nua đột nhiên vang lên.
Lâm Tam nương theo bản năng ngẩng đầu, thấy ngoài cửa phúc, khói mù cuồn cuộn, trong đó có một bóng hình mơ hồ, hình như quần áo rách rưới, lưng cong gù, Lâm Tam nương lắc đầu, nói: “Ta là Tạ Đạm Vân, không còn là Lâm Tam nương nữa!”
Nàng là Tạ Đạm Vân.
Ngoài cửa, bóng người mờ ảo kia dường như đang cười, tiếng cười trầm thấp.
A Hằng giơ tay, nhành gỗ cháy đen trong khoảnh khắc xuyên thủng làn sương mù dày đặc, ánh vàng hòa cùng mây đỏ bùng cháy, ầm ầm đánh tan lớp ảo giác bao bọc bóng hình kia, lớp da của bà lão khô héo, bong tróc từng mảng, để lộ ra chân dung chàng áo tím.
Đôi mắt đỏ sẫm của A Hằng khóa chặt hắn, cười lạnh: “Giả bộ cái gì? Hồ ly thối.”
Gió sương tan bớt, chàng áo tím kia mũ áo lấp lánh ánh vàng, gương mặt tái nhợt nhưng tuấn mỹ hiện ra rõ ràng, trên mặt mỉm cười, đuôi mắt vì thế mà càng cong lên: “Cô nương A Hằng, ta đã nói rồi, cô và ta là người cùng đạo, đã là người cùng đạo, cô muốn gì, ta hiểu rất rõ, những kẻ chấp niệm quá sâu, hồn phách mới là mỹ vị nhất, cô rõ ràng cũng thèm khát, cớ sao còn phí công đánh thức các nàng chứ?”
Sự thức tỉnh này, không phải thức tỉnh kia, giờ đây họ vẫn đang ở trong giấc mộng của hai nữ tử, nhưng nếu không có A Hằng ra tay, Tạ Triều Yến và Tạ Đạm Vân e rằng đã chìm đắm trong ký ức tiền kiếp, vô tri vô giác bị hồ yêu này từng miếng từng miếng nuốt mất hồn phách.
Nếu A Hằng đoán không sai, trước đó Đàn lang dụ hai người ngoài mộng tự cắt lưỡi, chính là để phong bế linh khiếu trên người họ, trời sinh vạn vật, đều có linh khiếu, linh khiếu của con người nằm ở miệng lưỡi, một khi phong bế nơi này, liền có thể khống chế toàn bộ mộng cảnh của họ, dù trong mộng họ có phát hiện gì đó, hoặc là tỉnh táo thoáng chốc, không có đầu lưỡi, họ cũng không thể kêu cứu, chỉ có thể tiếp tục rơi lại vào mộng, bị ăn sống ba hồn bảy phách, chết trong lặng lẽ không hay biết.
Người chết như vậy, giống như Tuyền Hồng, vĩnh viễn không còn kiếp sau.
Tạ Đạm Vân và Tạ Triều Yến đứng bên cạnh A Hằng, nghe thấy Đàn lang nói, sắc mặt gần như đồng loạt biến đổi, cùng nhìn về phía A Hằng.
“Đàn công tử, không thể ngờ được, ngươi lại là…”
Tạ Triều Yến lần nữa nhìn chàng áo tím ngoài cửa, vẫn còn không dám tin.
Tạ Đạm Vân cũng mang vẻ mặt phức tạp.
A Hằng cong ngón tay, Vạn Mộc Xuân lơ lửng giữa không trung, nhắm thẳng vào ngực Đàn lang, nàng như thấy hứng thú, chậm rãi hỏi: “Hồn phách con người? Ngon lắm sao?”
Đàn lang sững lại, dường như có chút bất ngờ: “Mục tiêu của cô không phải là hồn phách của họ? Lạ thật… cô rõ ràng đang tranh với ta, chẳng phải sao?”
“Đúng vậy.”
A Hằng nheo mắt cười.
Đàn lang cúi mắt, nhìn xuống Vạn Mộc Xuân, trong đáy mắt hắn lộ rõ vẻ kiêng dè, thần vật như vậy, hắn sống ngàn năm cũng chưa từng thấy, nhưng hắn có thể cảm nhận được trong đó ẩn chứa vô vàn huyền diệu, A Hằng lại mang mồi lửa trong người, nếu thật sự trở mặt, nàng lại liều mạng thì tất nhiên cũng đủ khó đối phó, nghĩ vậy trong lòng, nhưng trên mặt Đàn lang vẫn dung dung, nói: “Thần vật đối với chúng ta, đôi khi không phải là thứ tốt, ví như thần binh của cô nương A Hằng đây, thân yêu tà của cô chú định không thể phát huy toàn bộ sức mạnh của nó, thậm chí, nó còn sẽ phản phệ cô, thần trên trời cao cao tại thượng, đồ dùng của họ, sao có thể thật sự sẽ thuộc về cô chứ? Dù nó là thần binh lợi hại đến đâu, rơi vào tay cô, cũng chỉ ngày càng tầm thường.”
“Bớt khoe khoang.”
A Hằng khoanh tay, nói.
Không cần Đàn lang nói, A Hằng tự mình cũng hiểu rất rõ, trước kia nàng từng đại náo phủ Cực U ở Âm Ty, vị phán quan phủ Cực U khi đó vốn chẳng phải đối thủ của nàng, làm loạn một phủ Cực U thì nàng còn làm được, nhưng nếu muốn khiến toàn bộ Âm Ty nháo đến long trời lở đất, nàng tuyệt đối không có bản lĩnh như thế, chỉ là ông già Diêm Vương kia lòng dạ rộng rãi, cuối cùng cũng không truy cứu chuyện nàng làm sập cả phủ Cực U.
A Hằng nghĩ đến đây, không khỏi sinh nghi về ngày hôm ấy tại điện Diêm Vương, khi nàng cùng Lâm Nương theo Mạnh à đi về phía cầu Nại Hà, không biết tiểu thần tiên đã nói gì với Diêm Vương, đến mức Diêm Vương lại chịu thả nàng rời khỏi Âm Ty.
“Cô nương A Hằng, Trình tiên trưởng không có ở đây.”
A Hằng còn đang thất thần, thì nghe Đàn lang nói tiếp: “Nếu không có ta, cô làm sao có thể vào được giấc mộng của hai người họ?”
A Hằng lập tức hiểu ra, nàng đối diện ánh mắt của Đàn lang: “Hóa ra, trước đó ta và tiểu thần tiên gặp ngươi trong mộng của Tạ Triều Yến, vốn không phải ảo giác hư giả.”
Từ lúc ấy, Đàn lang đã nhắm vào tỷ muội họ Tạ mà tỉ mỉ giăng sẵn lưới săn.
So với A Hằng, hắn phát hiện ra chấp niệm của tỷ muội họ Tạ sớm hơn cả.
Ánh mắt Đàn lang ôn hòa: “Cô nương A Hằng, cô và ta vốn cùng một đường, trên người… lại đều có cùng một thứ, chi bằng chúng ta thỏa thuận, tỷ muội họ Tạ, chúng ta mỗi người một kẻ, từ nay hai ta liên thủ, đến khi đó cô sẽ hiểu, hồn phách con người mới là thứ mỹ vị nhất thiên hạ, chỉ cần ăn càng nhiều hồn phách, cô sẽ luyện hóa được nhiều sức mạnh hơn, cô hà tất phải cố chấp giữ lấy thần binh này trong tay? Cô và nó vốn không xứng, cuối cùng nó sẽ tự phong ấn, biến thành…”
Đàn lang vốn định nói “đồng nát phế sắt”, nhưng khi nhìn vào đâjn cành gỗ cháy khô mảnh mai kia, hắn khựng lại, đổi lời: “Than cháy.”
“Ngươi muốn liên thủ với ta?”
A Hằng nhìn đôi mắt trong veo xinh đẹp của hắn, bên trong dường như ẩn chứa vô tận mê hoặc, nàng nhếch môi: “Nhưng sao ta lại thấy ánh mắt ngươi nhìn ta… giống đang nhìn con mồi vậy?”
Nàng cười khẽ: “Thật đúng là trùng hợp.”
Vạn Mộc Xuân lập tức rơi vào tay nàng, thân thể nàng trong khoảnh khắc hóa thành sương đỏ, cuốn lấy Vạn Mộc Xuân lao tới nhanh như tia chớp: “Hồ ly thối, ai cùng đường với ngươi? Xem ta lột da ngươi xuống!”
Gió mạnh ập tới, Đàn lang lập tức nghiêng người tránh mũi cành Vạn Mộc Xuân, sương đỏ cuộn theo những tia chớp vàng kim sượt qua vạt áo hắn.
Đàn lang không biết đã bước vào bao nhiêu giấc mộng của người khác, lúc này hắn hành động cực kỳ thuần thục, thậm chí lập tức thao túng cơn mưa đắng khắp trời hóa thành vô số gai nước sắc nhọn và mảnh, hai tay áo vung lên, vạn vạn mũi nước bắn thẳng về phía sương đỏ.
Sương đỏ tản ra rồi nhanh chóng tụ lại trở nên càng thêm u ám, ngưng ra thân hình A Hằng, nàng vung Vạn Mộc Xuân trong tay, mây đỏ lửa rực kèm kim điện xé nát vô số mũi nước, từng luồng hơi nước sắc bén sượt qua người nàng, đánh nát cả gian nhà, trong khoảnh khắc xà nhà đổ sập, mái vỡ tung, bóng người bị định trụ của Hạ phu nhân và đám nô bộ bị vùi dưới đống tường gạch đổ nát.
Bóng dáng Đàn lang biến mất, A Hằng chỉ nghe thấy từng trận hồ gào không dứt, vọng từ bốn phía, nhất thời khiến nàng khó phân biệt được phương hướng, dưới màn đêm đen kịt, ánh mắt A hằng chậm rãi quét quanh bốn phía, một giọt mưa lạnh lẽo lướt qua bên tai nàng, giọng gió lượn lờ, A Hằng đột ngột xoay người sang phải, mũi cành Vạn Mộc Xuân chợt chạm vào lưỡi kiếm sáng loáng, leng keng vang lên một tiếng, kim điện bắn tung, xì xèo rung động.
Đàn lang tay cầm kiếm sắc, giằng co với A Hằng, thở dài nói: “Cô nương A Hằng rượu mời không uống, thì phải uống rượu phạt…”
Lúc này ngoài mộng, Hoàng An và đám gia nhân trong Đàn viên đều lộ nguyên hình, từng khuôn mặt người hóa thành khuôn mặt hồ ly, mọc ra đuôi hồ ly, dù thân vẫn mặc áo quần, dưới vạt áo lại lộ ra từng chiếc đuôi hồ ly, chúng nhe nanh sắc nhọn, bổ nhào vào những nam nữ khách còn sót lại trong phòng.
Đám nam nữ vang lên tiếng thét thảm thiết, thương vong nặng nề.
Lâm Nương điều khiển dòng nước đánh cho lũ hồ ly ướt sũng lông lá, cứ như vậy không biết qua mấy hiệp, hồ ly mệt người cũng kiệt, nhưng con hồ ly lông tạp khoác quần áo của Hoàng An ngửa đầu hú dài một tiếng, toàn bộ hồ ly lập tức phấn chấn trở lại, dứt khoát đồng loạt lao về phía Lâm Nương, vây công nàng từ bốn bề.
“Ta đã bảo sao trong vườn này lại có nhiều hang núi đến vậym hóa ra chẳng phải chỗ mèo hoàng chui rúc gì cả, mà là hang hồ ly!” Tích Ngọc vẫn đang gắng gượng chống đỡ trận pháp, thở hồ hển vừa quay đầu lại đã thấy mấy con hồ ly đồng loạt bật nhảy há miệng cắn xé Lâm Nương, Lâm Nương hóa nước thành lưỡi đao, vung tay chém ngược, nhưng con hồ ly lông tạp kia lại lặng lẽ vòng ra sau lưng nàng, bổ nhào về phía gáy nàng, sắc mặt Tích Ngọc chợt biến, vội hét lớn, “Triệu cô nương cẩn thận phía sau!”
Đúng lúc này, trận pháp lôi điện bao trùm toàn bộ Đàn viên đột nhiên tan mất áp lực, hai tay Tích Ngọc trong khoảnh khắc rã rời, theo phản xạ hắn ngẩng đầu lên, chỉ thấy cuộn khói đen cuồn cuộn tụ lại thành một luồng, bay thẳng về phía gian nhà.
Một cây phất trần từ trong mây lao xuống, những sợi tơ trắng như tuyết phóng dài, quấn chặt lấy thân con hồ ly lông tạp, quăng mạnh sang một bên, ngay sau đó hàng loạt sợi tơ mảnh như tóc đồng loạt xuyên thấu thân thể tất cả hồ ly, máu tươi bắn tung tóe, tiếng hồ gào thảm thiết.
“Nghiệt súc ngu muội, chết cũng không đáng tiếc.”
Trong mây, giọng nói lạnh lẽo nghiêm nghị truyền đến.
Lâm Nương và Tích Ngọc cùng ngẩng đầu nhìn lên, chỉ thấy một bóng người giữa tầng mây, Tích Ngọc mừng rõ kêu lên: “Sư phụ!”
Tích Ngọc cảm nhận được gió lạnh đập thẳng vào mặt, tiếp đó từ sâu trong mây, thiếu niên áo trắng dẫn đầu phi thân lao xuống, hắn vung tay áo, toàn bộ nước bạc lấp lánh phủ đầy mặt đất lập tức bị hút vào tay áo hắn, gần như không hề dừng lại, hắn nhanh chóng lao về phía gian nhà, làn khói vẩn đục kia còn chưa kịp hoàn toàn hòa vào lư hương vàng thau, hắn quệt tay lên sợi pháp thừng bạc sáng ở thắt lưng, máu tươi lập tức trào ra, một lá bùa đan cuống đỏ bay vút khỏi tay áo, thân ảnh hắn trong chớp mắt hóa thành làn khói mỏng, chui thẳng vào giữa mày nữ tử họ Tạ.
“Tiểu sư thúc!”
Tích Ngọc lao nhanh vào trong phòng, lại thấy trận pháp lôi điện ban nãy dựa vào lư hương vàng thau mà một lần nữa trải rộng, bao phủ lên trên hai tỷ muội họ Tạ.
“Quả là một tà trận!”
Nghe thấy giọng nói ấy, Tích Ngọc quay đầu lại, thấy Dương Quân tay cầm phất trần, đang sải bước tiến vào, hắn vội chạy tới nghênh đón: “Sư phụ, vậy bây giờ phải làm sao?”
Đến lúc này Tích Ngọc mới hoàn toàn tỉnh ngộ, trong lòng không khỏi xấu hổ: “Con giờ mới hiểu ra, hồ yêu kia tinh thông thuật ngũ hành, muốn giết ai mà chẳng được? Nhưng hắn lại cố tình bày ra tà trận này, không phải để đấu pháp với con, bởi vì con vốn không phải đối thủ của hắn, mà là dùng mạng sống của những người này để nuôi dưỡng tà trận, trước khi sư phụ và tiểu sư thúc đến, hắn mượn trận này giam giữa hai vị tiểu thư nhà họ Tạ… chỉ là, con không iểu, vì hồn phách của hai vị tiểu thư nhà họ Tạ, hắn lại chịu bỏ ra cái giá lớn như vậy?”
Nào là tự chặt ba đuôi, lại còn dựng nên tà trận này.
Giữa trời đất, có thanh khí, cũng có trọc khí, hồ yêu dốc lòng bày bố tà trận, chính là mượn hết trọc khí bốn phương, tạo nên một kết giới kín như bưng, gió mưa không lọt, đao thương không xuyên.
“Hắn đâu chỉ vì ăn hồn phách người.”
Dương Quân bấm ngón tay tính toán, sắc mặt trở nên nặng nề, giữa mày hai tỷ muội họ Tạ, lửa đen lập lòe, rõ ràng là dấu vết của mồi lửa, hơn nữa còn là hai mồi lửa, ông trầm giọng nói: “Mục đích căn bản của hắn, là vị cô nương A Hằng kia.”
“Cái gì?!” Lâm Nương bước nhanh tới, vội vã cúi đầu hành lễ với Dương Quân, giọng đầy lo lắng, “Điện sư, xin ngài nhất định phải cứu A Hằng! Vừa rồi nàng vì cứu ta mà đã bị dược lục trên cửa phúc làm bị thương..”
“Nếu đã vậy, làm phiền tiểu hữu cùng Tích Ngọc hỗ trợ ta, mau chóng phá trận.”
Sắc mặt Dương Quân nghiêm nghị, phất trần trong tay vung lên, nói với nàng.
Trong lư hương vàng thau, ngọn lửa rực cháy, dưới làn khói dày tối, rèm trướng nhạt màu bị gió mạnh cuốn loạn, hai nữ tử nằm trên giường khóe môi nhuốm máu, giữa mày đều nhíu chặt.
Trong mộng mưa lớn càng lúc càng dữ dội, hóa thành vô số mũi tên mưa che trời lấp đất bắn về phía A Hằng, mây đỏ lửa rực quanh người A Hằng bùng lên, đánh tan hàng vạn mũi mưa, nàng ngoái đầu lại, thấy hai nữ tử đứng trên đống đổ nát, ánh mắt bi thương nhìn chằm chằm Đàn lang.
A Hằng tức đến nghiến răng: “Mau thu lại cái tâm tư thừa thãi đó của các cô đi, các cô xem hắn là kẻ đáng để phó thác cả đời, còn hắn thì từ đầu đến cuối chỉ mưu tính mạng sống của các cô, các cô còn vì hắn mà đau lòng, là muốn để mưa ở đây dìm chết ta, giúp hắn toại nguyện sao?”
Giữa không trung, vạt áo tím của Đàn lang bị gió thổi tung, hắn khẽ cười: “Cô nương A Hằng, cô không phải con người, tự nhiên không hiểu nỗi đau của một tấm chân tình dâng trào rồi bỗng chốc hóa hư không, kiếp trước các nàng chấp niệm quá sâu, kiếp này nếu không đạt được mục đích, chỉ càng thêm đau khổ.”
“Ngươi chí ít cũng phải là đàn ông, mới xứng khiến họ đau khổ,” A Hằng quay đầu lại, lửa giận ngút trời, giọng đầy khinh miệt, “còn ngươi chẳng qua chỉ là một con súc sinh!”
Nụ cười trên mặt Đàn lang cứng lại, đôi mắt hơi xếch của hắn khẽ nheo theo, tay áo cuộn lên, nước mưa tụ lại thành gai nhọn, lửa khói đen đặc bùng cháy nơi đầu ngón tay hắn, trong khoảnh khắc mưa tên đồng loạt bắn ra, lửa đen cuồn cuộn ập xuống, sấm sét vang rền, trời đất chấn động.
A Hằng hóa thành sương đỏ, đón mưa sét lao lên, chui thẳng vào dòng khí đen đặc, nhưng tìm mãi không thấy bóng dáng Đàn lang, một luồng gió yếu ớt thổi tới từ phía sau, A Hằng nhanh nhạy xoay đầu, nhưng ngay lúc ấy eo nàng bỗng bị thứ gì đó quấn chặt, nàng cúi đầu chỉ thấy một mảnh ánh bạc lạnh lẽo, rồi cả người nàng bị kéo mạnh sang bên, dòng lửa đen sượt qua người nàng, trải rộng thành một mảng bóng tối sâu thẳm nơi chân trời.
Dòng nước lạnh lẽo tựa như từ mây trời đổ xuống, trắng như dải lụa nhanh chóng quấn lấy toàn bộ thân mình A Hằng, cái cảm giác lạnh thấu xương ấy lập tức làm dịu cơn nóng bức quá độ trong lồng ngực nàng được sinh ra từ sự xung đột giữa các mồi lửa, A Hằng chậm chạp cúi mắt, bất giờ mới phát hiện thân thể vốn nửa trong suốt của mình lúc này đã đầy đặn xương thịt, hoàn toàn mang hình hài máu thịt của con người.
Đây là vỏ xác của nàng…
A Hằng lập tức ngẩng mặt lên, đối diện với đôi mắt trong trẻo lạnh lẽo của thiếu niên kia, nàng liền nở nụ cười: “Tiểu thần tiên, huynh đến chậm quá rồi.”
“Trên đường gặp chút phiền toái.”
Trình Tịnh Trúc thu lại sợi pháp thừng đang quấn nơi eo nàng lại.
“Con súc sinh đó đúng là quá xảo quyệt.”
A Hằng không cần hỏi cũng biết hẳn là hồ yêu kia đã sớm bày mưu tính kế, vì đề phòng Trình Tịnh Trúc và điện sư điện Dược Vương phát hiện rồi nửa đường quay về, nên đã giăng không ít chướng ngại trên đường.
Nàng vừa nói, ánh mắt đã quét lên tầng mây nơi lửa đen lấp loáng, lập tức bay ngời lao vào trong mây đen, đầu nhánh Vạn Mộc Xuân quét mạnh về phía đó, tức thì một thanh kiếm sắc lộ ra, mũi kiếm nghiêng sang, mang theo thế chẻ gãy muốn chém đứt đầu nhánh, nhưng cành cháy kia trong thì như dễ gãy, khi cọt xát với kiếm khí, lại phát ra tiếng kim thạch va chạm, ánh vàng rực cháy.
Thanh kiếm lập tức thu về, thấy định ẩn vào trong mây đen, đúng lúc ấy sợi pháp thừng bạc sáng xé tan mây mù, vang lên một tiếng choang, A Hằng ngoảnh đầu lại, thấy Trình Tịnh Trúc đã phi thân tới.
“Trình tiên trưởng, Đàn mỗ sớn đã muốn hỏi ngươi.”
Mây đèn dần tan, lộ ra dung mạo thật của chàng áo tím bên trong, thanh kiếm trong tay hắn bị pháp thừng quấn chặt, song trên mặt vẫn mang nụ cười: “Ngươi thân là người tu hành của cung Tử Tiêu Thượng Thanh, vì sao lại mang theo một yêu tà bên mình? Chẳng lẽ, là vì thứ trên người nàng ta?”
Đàn lang vừa nói, ánh mắt chậm rãi dừng trên người A Hằng: “Con người các ngươi luôn cho rằng hồ ly chúng ta bẩm sinh xảo trá, nhưng thực ra, trên đời này kẻ xảo trá nhất chính là các ngươi, thơ sách của các ngươi là để giáo hóa, binh đao của các ngươi, là để tranh đoạt giang sơn, các ngươi luôn vì đủ loại dục vọng mà tự giết lẫn nhau, vậy mà lại không cho phép yêu chúng ta thuận theo thiên tính, truy cầu bản năng, các ngươi rõ ràng cũng khao khát sức mạnh, nhưng lại luôn dùng những lý do đường hoàng để gán cho chúng ta ác danh, đám yêu tin vào thứ đạo đức nhân nghĩa lễ trí mà các ngươi rêu rao, quả thực đều là những kẻ ngu xuẩn có một không hai, vậy mà thật sự tin vào bộ nhân nghĩa lễ trí đó.”
A Hằng nghe mà nửa hiểu nửa không, song vẫn nhận ra chút ý đồ khiêu khích ẩn trong đó, nàng đối diện đôi mắt Đàn lang, trong ngũ quan hình người của hắn, đôi mắt ấy giống bản tưởng hồ ly nhất, rồi cười nói: “Những kẻ ngu xuẩn có một không hai? Ngươi đang nói chính mình sao?”
A Hằng nói rồi, liếc sang Trình Tịnh Trúc bên cạnh, giọng điệu nhẹ nhàng vô cùng: “Cái vỏ xác của ta đều do huynh ấy tạo cho, trên người ta có thứ gì, không có thứ gì, huynh ấy tự nhiên rõ ràng hơn ai hết…”
Nàng nói bằng giọng điệu thân mật như vậy, giọng vừa dứt đã hóa thành sương đỏ, trong chớp mắt áp sát Đàn lang, Vạn Mộc Xuân va chạm trực diện với mũi kiếm của Đàn lang, bốn phía sấm sét nổ vang.
Nàng đã nhìn ra rồi, bản lĩnh lợi hại nhất của hồ yêu này chính là dụ dỗ, hắn có thể khiến hai tỷ muội họ Tạ vì hắn mà động lòng, cũng cực kỳ giỏi dùng lời nói khuấy động những dây thần kinh nhạy cảm cảu đối phương, nhưng hắn đã tính sai một điều, trước mặt Trình Tịnh Trúc, A Hằng căn bản không hề giấu giếm, không phải vì nàng thật sự tin Trình Tịnh Trúc đến mức không muốn giấu giếm, mà là bởi sự che giấu vụng về của nàng hoàn toàn không có tác dụng, vì Trình Tịnh Trúc quá giỏi nhìn thấu lòng người.
Đàn lang vừa chống đỡ những chiêu thức sắc bén của A Hằng, vừa né tránh sợi pháp thừng đuôi bạc không ngừng tập kích hắn, vậy mà vẫn xem như ung dung, trong màn mưa khói tối tăm hắn trông thấy bàn tay A Hằng bắt đầu run rẩy, Đàn lang khẽ cười một tiếng, sau đó đôi mắt hồ ly ánh lên vẻ âm lạnh, mưa khổ đầy trời ngưng tụ thành mũi tên mưa, hắn nghiêng người né pháp thừng của Trình Tịnh Trúc, thân hình nhanh như chớp, mũi kiếm hung hăng ép về phía A Hằng.
A Hằng dường như kinh hãi, lập tức có ý lúi xuống mặt đất, Đàn lang thế không thể cản cúi người đuổi theo, mũi kiếm xé toạc từng tầng mây đen chém xuống, nhưng trong làn mưa sương, hắn lại thấy rõ nụ cười trên gương mặt A Hằng đang rơi xuống.
Sắc mặt Đàn lang chợt cứng lại, nhưng đã muộn, hắn ngẩng đầu, chỉ thấy một lá bùa trắng trong chớp mắt bốc cháy thành ánh kim rực rỡ, trong khoảnh khắc tầm mắt hắn bị che mờ, ánh vàng như lưới đổ xuống, lập tức trùm chặt toàn thân hắn, đồng thời, sợi pháp thừng đuôi bạc bay tới quấn chặt lấy eo hắn.
Lưỡi nhọn xuyên vào da thịt, phát ra tiếng trầm đục.
Thân thể Đàn lang cứng đờ, hắn chậm rãi nhìn xuống thiếu nữ lơ lửng giữa không trung, váy áo nàng trắng như tuyết, bên trong lộ ra vạt y đỏ như máu, cành cháy trong tay nàng, đầu nhánh cắm sâu vào vụng hắn, từng giọt máu của hắn rơi xuống, nhỏ bên má nàng.
Đôi mắt nàng cong cong tràn đầy ý cười.
Đàn lang lập tức giơ tay, mũi kiếm chỉ tới, nhưng lại cảm thấy những vảy bạc trên pháp thừng nơi eo đồng loạt mở ra, từng cạnh sắc bén đâm sâu vào da thịt hắn.
Khóe mắt Đàn lang đỏ rực, hắn quay đầu nhìn lại, thiếu niên cách đó không xa xoay người giữa mây, vạt áo phần phật, rõ ràng họ không hề có thời gian truyền tin cho nhau, vậy mà A Hằng lại cố ý lộ sơ hở, dụ hắn rời khỏi mây đen che thân, rồi Trình Tịnh Trúc bày lưới kim quang, gương mặt vốn ôn hòa của Đàn lang trở nên âm trầm đến cực điểm, tuy vẫn là mặt người, nhưng thần sắc không phải người, hắn cất tiếng: “Không ngờ một người một yêu các ngươi lại ăn ý đến vậy, nhưng các ngươi sẽ không cho rằng ta chỉ có chút bản lĩnh này thôi chứ?”
Đàn lang bật cười, dưới vạt áo tím tung bay phần phật, lộ ra sáu chiếc đuôi hồ xù lông, chóp đuôi màu xám trắng, lắc lư phía sau hắn, sương mù bao trùm toàn thân hắn, rất nhanh hóa ra bản tướng xích hồ, thoát khỏi sự trói buộc của pháp thừng, trên trời mây đen cuồn cuộn, sấm sét đan xen, lưu chuyển trên không, không ngừng giáng xuống.
Tà trận trọc khí bốn phương tụ thành đã hoàn toàn ngoại hóa thành ý chí của Đàn lang, chỉ cần hắn muốn, sấm sét sẽ không ngừng bổ về phía A Hằng và Trình Tịnh Trúc, dù hai người đã linh hoạt né tránh, nhưng vẫn bị lôi điện dày đặc đánh trúng, ngay sau đó, mưa lạnh cũng thừa thế xâm nhập, hóa thành hàng vạn mũi tên sắc bén.
A Hằng vung Vạn Mộc Xuân trong tay chém tan mưa tên, lửa cháy cuộn trào theo thân nàng hóa sương mà lao lên, gần như đồng thời, pháp thừng đuôi bạc của Trình Tịnh Trúc cũng tiến song song, khuấy đảo mây mưa.
Bóng dáng Đàn lang lại nhẹ bẫng né tránh, lóe lên rồi biến mất, ánh mắt A Hằng càng thêm lạnh băng, quanh thân nàng tỏa ra mây đỏ rực cháy hơn nữa, lao về phía bốn thiêu đốt khí đen, Trình Tịnh Trúc thấy tay nàng nắm chặt Vạn Mộc Xuân, gân cốt căng cứng, mà đầu nhánh cháy đen của Vạn Mộc Xuân thì ánh vàng đã mờ đi, sắc mặt hắn biến đổi, vội nói: “Cô nương A Hằng, cho dù Vạn Mộc Xuân nhận cô, nhưng thân phận yêu tà của cô có thể sử dụng sức mạnh của nó vẫn luôn hữu hạn, nếu cô cưỡng ép thúc động, chỉ khiến phản phệ càng nặng, mau bỏ nó ra.”
“Ta không..” A Hằng nghiến chặt răng, nghe tiếng hồ gào vọng trong mây, nàng không cần nhìn, cũng cảm nhận được thân xác của mình lại rạn nứt rồi, tất cả đều do những lôi điện và mưa tên gây ra, đôi mắt đỏ sẫm của nàng chăm chú nhìn vào nơi sâu trong mây đen, sương đỏ lãng đãng dường như mang đến cho nàng chút cảm giác mong manh, ánh sang trong mắt nàng chợt động, thân hóa sương đỏ, ào ạt lao về phía mây đen phương nam.
Trình Tịnh Trúc thấy vậy, lập tức vung pháp thừng.
Sợi pháp thừng như linh xà theo A Hằng chui sâu vào khối mây mù kia, từ trong tay áo Trình Tịnh Trúc bay ra vô số bùa trắng, đồng thời bốc cháy hóa thành lưu hỏa, kết thành một kim trận, chia làm năm mắt trận.
Bỗng nhiên tiếng hồ gào chói tai vang lên, Trình Tịnh Trúc ngẩng đầu nhìn, chỉ thấy khối mây đen đặc kia bị mây đỏ lửa cháy thiêu xuyên, bên trong kim điện lấp lánh, pháp thừng bay trở về tay hắn, còn thân ảnh A Hằng hiện ra, một vật từ đầu cành dính máu trong tay nàng rơi xuống, đập xuống đất trước mắt Tạ Đạm Vân và Tạ Triều Yến đang co rúm giữa đống đổ nát, thấy vật đó rơi trước mặt, đó là một chiếc đuôi hồ ly, chỗ xương cốt máu thịt đứt gãy, máu đỏ sẫm rỉ ra.
Tiếng hồ gào dồn dập, càng thêm sắc nhọn.
Ai cũng nghe ra được cơn phẫn nộ trong đó.
Hai tay A Hằng run rẩy không ngừng, Vạn Mộc Xuân dường như muốn thoát khỏi tay nàng, vậy mà nàng vẫn siết chặt không buông, đúng lúc này, tiếng hồ gào bỗng ngừng bặt, A Hằng cúi nhìn xuống đất, hồ yêu lại hóa thành hình người, năm chiếc đuôi dính máu ướt sũng, còn sắc mặt hắn trắng bệch đến phi nhân, đôi mắt hồ ly kia như chứa chan tình ý, con ngươi trong veo chăm chú nhìn về phía Tạ Đạm Vân và Tạ Triều Yến.
Ngay tức khắc, tròng trắng trong mắt hai nữ tử vốn còn sợ hãi bị màu đen tràn ngập, sắc mặt họ trở nên hoảng hốt mơ hồ, đờ đẫn nhìn về phía Đàn lang.
Chỉ trong chớp mắt, Đàn lang lại hóa thành hai bóng người, áo tím trên người hắn biến mất, thay vào đó là áo đỏ rực rỡ, hai Đàn lang đầu đội kim quan, lưng thắt đai ngọc, mày mắt mỉm cười cùng đối diện hai nàng.
“Hắn muốn nuốt hồn phách của họ, để bù khí lực nối lại đoạn đuôi.”
Trình Tịnh Trúc cau mày nói.
Sắc mặt A Hằng trầm xuống, nàng nhìn lại Tạ Đạm Vân và Tạ Triều Yến, thì thấy trên người họ cũng đã hóa ra hồng trang, đầu đội mũ phượng quan vàng rực, tóc mai như mây, mày ngài thanh tú, mỗi người một vẻ kiều diễm động lòng.
Mưa âm u, gió sương lạnh lẽo, đôi mắt vốn đờ đẫn của họ gần như đồng thời ánh lên ánh sáng, A Hằng bay người lao xuống, đưa tay chụp tới nhưng lại xuyên qua thân thể hai người.
“Vô dụng thôi, tâm niệm của họ đã sớm bị hồ yêu này lay động, giờ lại bị hắn cắt lưỡi phong bế linh khiếu, chỉ cần hắn muốn khơi dậy chấp niệm của họ, trong mắt họ liền chỉ còn hắn, mà không còn thấy được cô hay ta, đã không thấy thì tự nhiên không chạm được.”
Trình Tịnh nói xong, pháp thừng xuyên mây phá mưa, đâm xuyên than hình Đàn lang, nhưng thân hắn như mây đậm, hoàn toàn không bị lay động, hiển nhiên, đây không phải chân thân của hắn, song dù không phải chân thân, cũng đủ khiến hai nữ tử họ Tạ vì hắn mà lao vào lửa như thiêu thân.
Trình Tịnh Trúc chập hai ngón tay, mặc niệm chú ngữa, pháp trận kim quang phía trên lập tức vận chuyển, dốc toàn lực ngăn cản sấm sét mưa lạnh đang ập tới.
“Này, hai người mau tỉnh lại đi!”
A Hằng bước nhanh tới, lớn tiếng gọi.
Nhưng Tạ Triều Yến và Tạ Đạm Vân hoàn toàn không phản ứng, hai Đàn lang mặc áo đỏ mỉm cười với họ, gần như đồng thời mở miệng nói: “Ta là dáng vẻ mà các nàng yêu thích nhất trong lòng, đúng không?”
Giọng nói của hắn dịu dàng đến cực điểm.
Đôi mắt đen kịt của hai nàng như mê say, mang theo chút thẹn thùng, hai người khẽ gật đầu.
A Hằng quay đầu, nhìn hai Đàn lang kia, bọn họ rõ ràng cùng một khuôn mặt, nhưng khí chất lại khác nhau, song đó đều không phải diện mạo chân thực của Đàn lang, A Hằng cảm thấy họ càng giống như những hình tượng mà Tạ Đạm Vân và Tạ Triều Yến dựa trên con người Đàn lang mà dệt nên trong tưởng tượng của chính mình.
Hai Đàn lang này khí chất bất đồng, chính là lương phối mà Tạ Đạm Vân và Tạ Triều Yến tỉ mỉ điêu khắc cho bản thân trong lòng.
Hắn dung mạo đẹp, văn tài xuất chúng, làm người cương trực.
Có thể lận đận, có thể trầm ổn, hắn sẽ hiểu được lòng nàng, thấu hiểu hành vi của họ, sẽ trân trọng nhau trọn đời trọn kiếp, ân ái không nghi ngờ.
“Đạm Vân, ta tuyệt không phụ nàng.”
“Triều Yến, ta tuyệt không phụ nàng.”
Hai Đàn lang thốt ra lời thề yêu sâu đậm, đưa tay về phía họ, dùng ánh mắt dịu dàng tràn đầy mà chăm chú nhìn họ, mong đợi họ.
Tạ Đạm Vân và Tạ Triều Yến không chút do dự lao về phía họ, hân hoan đến vậy, vội vã đến vậy.
A Hằng trơ mắt nhìn nắm lấy tay hai Đàn lang, Vạn Mộc Xuân trong tay nàng vung ra, nhưng hai Đàn lang kia lập tức hóa thành khói đặc, nhấn chìm hai nữ tử họ Tạ.
Tiếng hồ gào quỷ dị vang lên.
A Hằng thân hóa sương đỏ, cuốn theo Vạn Mộc Xuân lao vào trong khói đặc, nàng chợt nghe thấy tiếng cười âm lạnh của Đàn lang, khói đặc cuộn thành gió mạnh, mọi thứ trong mộng cảnh đều bị ép chặt vặn vẹo, nàng còn chưa kịp nhìn rõ Tạ Đạm Vân và Tạ Triều Yến, đã cảm thấy tay chân bị gió trói chặt, Vạn Mộc Xuân rơi xuống đất cắm sâu vào bùn đất, ngay sau đó vạn đạo lôi điện ầm ầm giáng xuống ———
A Hằng theo bản năng nhắm chặt mắt, bỗng nhiên, nàng rơi vào một vòng ôm, chỉ còn sấm sét nổ vang bên tai, những châu ngọc lạnh lẽo áp sát lên má nàng, nàng mở mắt ra, thứ lọt vào tầm nhìn là bảo châu màu xanh nước, là vạt áo trắng như tuyết.
A Hằng ngẩn ngơ nhìn tấm lưng của hắn, sấm sét như gai nhọn, trọc khí cuồn cuộn, nàng ngửi thấy mùi máu nồng đậm, thơn ngát đến mức khiến cổ họng nàng vô cùng khô rát, nàng chậm rãi đưa tay sờ lên lưng hắn, chạm vào một bàn tay đầy máu tươi, nhưng nàng lại rất lâu vẫn không đưa máu đó lên liếm.
Hắn ôm nàng rất chặt, chặt đến mức nàng gần như cảm nhận được thân thể ấm nóng của hắn đang khẽ run rẩy, đúng lúc ấy, nàng nghe thấy Đàn lang cười nói: “Trình Tịnh Trúc, chỉ với một thiếu niên mười bảy tuổi như ngươi, ta thừa nhận ngươi quả thực có chút thiên tư, cho nên ta mới thật lòng mời ngươi nếm thử mùi vị trọc khí bốn phương này, thế nào? Chúng xâm nhập vào vết thương của ngươi, có phải đang quấn đấu với thanh khí trong cơ thể ngươi không? Chẳng bao lâu nữa, kim thân của ngươi cũng sẽ vỡ nát… đến lúc đó, ngươi chỉ còn một con đường chết.”
“Tiểu thần tiên…”
A Hằng vừa mở miệng gọi một tiếng, đã thấy hắn khẽ nghiêng mặt, môi hắn gần như chạm sát bên tai nàng, nàng cảm nhận được hơi thở nóng rực của hắn, cùng lúc đó, giọng nói rất khẽ của hăn rơi vào vành tai nàng: “Chịu thêm một lát nữa, làm được không?”
Máu của hắn theo kẽ tay nàng chảy xuống, hàng mi A Hằng khẽ rung.
“Làm được.” Nàng đáp.
Trình Tịnh Trúc bỗng nhiên đẩy nàng ra, thân hình lướt ngược lên phía trên cơn lốc, từ tay áo hắn bùa trắng bay ra, hóa thành lưu hỏa, thoáng chốc chiếu sáng đôi mắt hai tỷ muội họ Tạ.
Hắn niệm chú, kim trận xoay chuyển dữ dội, dốc toàn lực đối kháng với trận pháp lôi điện, A Hằng lập tức lao đến bên cạnh hai nàng họ Tạ, tay lật mây đỏ lửa cháy mở ra, che chắn họ phía sau.
“Tạ Đạm Vân! Đàn ông rốt cuộc có gì tốt?”
A Hằng vừa chống đỡ sấm sét, vừa lạnh giọng quát lớn: “Đời trước các cô rõ ràng đã chịu thiệt rồi, vậy mà vẫn cho rằng chỉ cần đời này các cô chọn lựa kỹ càng một người đàn ông là có thể đổi lấy một đoạn lương duyên?”
“Nhân duyên đối với các cô thật sự quan trọng đến thế sao? Không phải các cô vẫn đem vận mệnh của mình giao vào tay kẻ khác ư? Không phải vẫn câm tâm làm kẻ phụ thuộc ư?”
Mu bàn tay A Hằng bị sấm sét xé rách một vết, lúc này nàng lại cảm nhận được cơn đau, rất đau, nàng hít sâu một hơi: “Nếu các cô thực sự coi trọng cái gọi là nhân duyên ấy, thì càng nên mở to mắt mà nhìn cho rõ, lang quân trong mắt các cô, kỳ thực là một con súc sinh có lông có đuôi!”
Đôi mắt đen nhánh của Tạ Đạm Vân dường như khựng lại trong khoảnh khắc.
“Nếu thật để hắn đắc thủ,” A Hằng nhớ đến trong Âm Ty, cảnh tượng Tuyền Hồng thần hồn tiêu tán, rồi nhìn hai người họ, nàng nói, “chấp niệm của các cô không những không được giải thoát, mà từ đó về sau, các cô sẽ không còn tồn tại nữa, nếu chấp niệm của các cô thật sự sâu đến thế, thì cam lòng để bị hồ yêu lừa gạt, để hắn từng ngụm từng ngụm ăn sạch ba hồn bảy phách sao? Các cô… muốn vĩnh viến biến mất ư?”
“Ta..”
Môi Tạ Đạm Vân run rẩy, khó khăn lắm mới thốt ra được một chữ, sắc mặt nàng đau đớn đến cực điểm, nước mắt trào ra, làm nhạt đi màu đi phủ kín lòng trắng mắt.
Nàng dường như đã khôi phục thần trí, quay sang nhìn Tạ Triều Yến bên cạnh, không kìm được gọi: “Triều Yến, Triều Yến!”
Tạ Triều Yến hoàn toàn không có phản ứng.
Thực hiển nhiên, thần trí của nàng không vững vàng như Tạ Đạm Vân, nên đã bị hồ yêu hoàn toàn nhiếp mất tâm hồn.
Đúng lúc này, Trình Tịnh Trúc mở mắt, trên không trung, kim trận đang đối kháng với trận pháp lôi điện, năm cái mắt trận bay lên từng hạt phấn vàng, hiện ra hình dạng của các loài thảo mộc khác nhau, sống động như thật.
Bóng dáng vốn vô hình của Đàn lang bị phấn vàng phác họa thành hình, Trình Tịnh Trúc ngẩng mắt nhìn, lòng bàn tay vung ra pháp thừng đuôi bạc, Đàn lang vội né tránh, không giấu nổi kinh ngạc: “Thuật ngũ hành? Không thể nào, ngươi căn bản không phải là vật dẫn của ngũ hành!”
“Thảo mộc dược tính bất đồng, trong y lý cũng phân ngũ hành.”
Áo trắng của Trình Tịnh Trúc nhuốm máu, vẻ mặt lạnh lẽo: “Đây là dược pháp ngũ hành của điện Dược Vương.”
Đàn lang tinh thông thuật ngũ hành, nhưng chưa từng nghe qua thứ ngũ hành trong dược lý như vậy, song lúc này, hắn thực sự cảm nhận được sự lợi hại của dược pháp ngũ hành, hắn khôg còn chỗ nào để ẩn thân.
“Triều Yến! Mau tỉnh lại!”
Tạ Đạm Vân vẫn cố gắng gọi Tạ Triều Yến.
Pháp thừng đuôi bạc truy đuổi Đàn lang không buông, một đòn đâm thẳng vào một mắt hắn, khuôn mặt Đàn lang vặn vẹo, lộ ra miệng nhọn của hồ ly, lông tơ mọc đầy, vừa há miệng đã là tiếng hồ gào chói tai.
“Tìm chết! Tìm chết!” tiếng nói của Đàn lang hòa cùng hồ gào vang dội khắp mộng cảnh, hắn phát cuồng thúc động lôi pháp, mu bàn tay Trình Tịnh Trúc gân cốt căng cứng, gắng gượng chống đỡ kim trận.
Hắn cảm nhận được trọc khí chui vào thân thể, gào thét, hoành hành trong khắp cơ thể, gân cốt toàn thân đau đớn dữ dội, lúc này, kim trận vang lên tiếng nứt vỡ.
A Hằng ngẩng đầu, nhìn thấy những khe nứt trên kim trận.
Nàng lao lên trước, đưa tay triệu hồi Vạn Mộc Xuân, dốc hết sức siết chặt nó, thúc giục nó, mây đỏ lửa cháy quấn lấy kim điện tràn ra từ Vạn Mộc Xuân cuồn cuộn trào đi, bịt kín những khe nứt trên kim trận.
Kim trận chặn được phần lớn lôi điện, khí đen rực cháy tỏa ra từ người Đàn lang thiêu đốt bên trên kim trận, chẳng mấy chốc, kim trận lại nứt thêm vài đường.
“Xem ra đây là thủ đoạn cuối cùng của các ngươi rồi.”
Đàn lang buông tay khỏi con mắt máu thịt be bét, hắn vừa nói, vừa móc ngón tay, lôi điện quấn dòng khí đen đặc, khiến kim trận xuất hiẹn thêm vô số vết nứt, ngoài trận mưa khổ rả rích hóa thành vô vàn mũi tên nước, những mũi nhọn sắc bén đồng loạt chĩa về phía A Hằng và Trình Tịnh Trúc trong trận.
Ánh mắt Đàn lang vẫn lạnh lẽo nhìn chằm chằm họ.
Tiếng vỡ giòn tan nổ tung, kim trận bị phá thủng một lỗ, Đàn lang đột ngột chui vào trong trận, vạn tên mưa theo sát mà đến, nhưng bỗng dưng khựng lại.
Đàn lang sững người, sau đó, hắn hơi không dám tim mà nhìn về phía Tạ Đạm Vân.
A Hằng cũng đang nhìn Tạ Đạm Vân,
“Đây là mộng cảnh của ta…” Tạ Đạm Vân chợt hiểu ra, “mưa này, gió này, thậm chí cả sấm sét, đều do ta mà sinh.”
Nàng liếc nhìn A Hằng vẫn luôn chắn trước mặt mình, rồi đối diện ánh mắt Đàn lang, một mắt hắn máu thịt lẫn lộn, con mắt còn lại cũng chẳng còn dịu dàng như trong ấn tượng của nàng, sắc mặt nàng trở nên kiên định dị thường: “Cho nên, chúng… vốn nên là sức mạnh của ta.”
Trong chớp nhoáng, lôi điện bất động, gió cũng tạm lặng, ngay cả mưa tên dày đặc giữa mây cũng đổi hướng, ào ạt trút về phía Đàn lang.
Đàn lang lập tức vung tay áo, mưa tiễn tức khắc hóa thành nước mềm yếu thu cả vào trong tay áo hắn, hắn cười ha hả: “Là của ngươi thì sao? Ngươi chỉ là một người phàm, cho dù có vũ khí sắc trong tay, sức mạnh cũng nhỏ bé vô cùng, chỉ có thể… để ta sử dụng!”
Gió vốn ngừng lại, sấm sét vốn đứng yên, lại đồng loạt đổ ập xuống như trời long đất lở.
A Hằng và Trình Tịnh Trúc gắng sức chống đỡ, Tạ Đạm Vân thì nỗ lực điều khiển những thứ vốn do cảm xúc của nàng ngoại hóa thành, đột nhiên, có một bàn tay nắm lấy tay nàng, Tạ Đạm Vân sững người, quay đầu lại, đối diện đôi mắt đã trong suốt của Tạ Triều Yến.
Gió dừng, sấm lặng, mưa sương đông cứng.
“Đây cũng là mộng cảnh của ta.”
Tạ Triều Yến siết chặt tay Tạ Đạm Vân, ngẩng đầu, nhìn lên Đàn lang giữa không trung, ánh mắt nàng đau đớn, ngay tức khắc gió mưa sấm sét lại ầm ầm ép xuống hắn.
Đàn lang cười lạnh một tiếng, dòng khí đen như mực loang chảy xuống, ngăn cản những thứ chẳng đau chẳng ngứa ấy, lưu hỏa đen đặc rốt cuộc khiến kim trận hoàn toàn vỡ vụn.
Ánh vàng vỡ tung, bay tứ tán.
Đàn lang giơ kiếm chỉ về phía Trình Tịnh Trúc, nhưng bỗng nhiên phân thành năm bóng dáng, lao về phía hai nàng họ Tạ, A Hằng vừa xông tới thì bị lưu hỏa đen đặc đánh trúng, đúng lúc này, Tạ Triều Yến đột ngột đẩy Tạ Đạm Vân ra, bả vai nàng bị một bóng dáng bắt lấy, Tạ Đạm Vân lập tức nắm chặt tay nàng: “Triều Yến!”
Bóng kia hiện rõ hình dáng hồ ly, há miệng, hàm răng nhọn hoắt cắn mạnh vào vai Tạ Triều Yến, Tạ Triều Yến hét lên: “A a a!”
Trình Tịnh Trúc quay đầu trông thấy, lập tức vung pháp thừng, bản thể Đàn lang né tránh, pháp thừng liền nhanh chóng quay về tay Trình Tịnh Trúc, hắn phi thân lao tới trước mặt Tạ Đạm Vân và Tạ Triều Yến.
Vạn Mộc Xuân của A Hằng và pháp thừng của hắn đồng thời đánh tan bóng kia.
Tạ Triều Yến được Tạ Đạm Vân ôm vào lòng, nàng ôm lấy bả vai, thần trí hỗn loạn, thân thể cũng trở nên trong suốt.
“Triều Yến…”
Tạ Đạm Vân run giọng gọi.
Tạ Triều Yến miễn cưỡng nghe thấy, ngẩng mắt nhìn nàng, nói: “Xin lỗi, Đạm Vân tỷ tỷ, muội không nên chuyện gì cũng tranh với tỷ, tranh tới tranh lui, kỳ thực, kỳ thực cũng chẳng có ý nghĩa gì…”
Dứt lời, Tạ Triều Yến khép mắt lại.
Trong mắt Tạ Đạm Vân ngấn lệ, nàng ngẩng đầu nhìn A Hằng và Trình Tịnh Trúc vẫn còn quấn đấu với hồ yêu kia, ánh mắt nhìn về phía Đàn lang không còn chút lưu luyến nào: “Ngươi khinh rẻ chúng ta, dùng hết thủ đoạn mê hoặc để lừa gạt chúng ta, lợi dụng chúng ta, coi khổ nạn của chúng ta như một trò cười, loại yêu nghiệt như ngươi, sao có thể thật sự hiểu được tình cảm của con người?”
Nàng bỗng bật cười.
A Hằng quay đầu lại, thấy trên gương mặt Tạ Đạm Vân là nụ cười rực rỡ, cười rồi lại cười, nước mắt vẫn tràn xuống: “Cô nương A Hằng, cô nói đúng, ta rõ ràng kiếp trước đã chịu đủ đau khổ, vậy mà kiếp này vẫn cam tâm làm kẻ phụ thuộc, vì sao ta phải như vậy chứ?”
Mưa gió gào thét, sấm sét vang trời.
Tạ Đạm Vân mặt đầy nước mắt, nhìn chằm chằm Đàn lang giữa không trung.
Sấm sét quấn quanh, mưa tên dày đặc, trong khoảnh khắc ập tới, trói chặt thân thể hắn, xuyên qua tứ chi hắn.
Đàn lang toàn thân đẫm máu, diện mạo dữ tợn, không còn chút dáng vẻ con người, mây đen cuồn cuộn trong tay áo hắn, ánh lửa chớp lóe, hắn khuấy đảo trời đất, lấy thế nghiêng trời lệch đất, chấn động bốn phương.
Mấy người đều bị đánh bật ra, ngã mạnh xuống đất.
Trình Tịnh Trúc phun ra một ngụm máu.
A Hằng nhìn hắn: “Tiểu thần tiên…”
Thần sắc Đàn lang trở nên hưng phấn, vừa định lao xuống, thân thể lại đột nhiên cứng đờ.
Hắn cảm nhận được trong bụng có một luồng thanh khí cuộn trào, thanh khí ấy khuấy đảo phế phủ hắn, chèn ép tim hắn, mắt hắn trở nên đỏ ngầu, đột ngột đối diện ánh mắt thiếu niên áo trắng, rồi hét lớn: “Nước bùa kia… là nước bùa kia đúng không? Ta rõ ràng đã uống bảo đan của Huyền Ninh Quan! Bất kỳ pháp khí phật đạo nào cũng không thể làm tổn thương ta!”
“Thì ra đây chính là nguyên do khiến ngươi có thể che giấu yêu khí.”
Trình Tịnh Trúc lau vết máu nơi khóe môi: “Bảo đan của Huyền Ninh Quan có lẽ còn chút tác dụng với các đạo quán tầm thường, nhưng căn bản của điện Dược Vương cung Tử Tiêu Thượng Thanh chính là dược, người thường uống nước bùa ấy, tự nhiên sẽ không có vấn đề gì, nhưng thân thể yêu tà của ngươi, trong bốn mươi chín ngày tuyệt đối không thể hóa giải được nó, còn dược pháp ngũ hành, chính là pháp môn thúc đẩy nó phát tác.”
Đàn lang giận dữ đến cực điểm, mồi lửa trong lồng ngực cháy cuộn trào, bên tai hắn vang lên vô số tiếng chói tai, mây đen cuộn lấy thân thể hắn, muốn cưỡng ép điều khiển tứ chi đã bị nước bùa làm tê cứng, trong mây đen, những mảnh vỡ của kim trận bị phá vụn bất ngờ xuyên thủng bụng hắn, A Hằng phi thân lao tới, mây đỏ lửa rực trút xuống như thác, kèm theo mưa tên dồn dập, đầu nhánh Vạn Mộc Xuân đâm thẳng vào ngực Đàn lang, vô số mưa tên xuyên thủng da thịt hắn.
“Phá!”
Cùng lúc đó, một giọng nói lạnh lẽo nghiêm nghị như xuyên thấu cả mộng cảnh vang lên.
Trận pháp mây đen của Đàn lang lập tức tan vỡ.
Mây đen dần dần tản đi, đống đổ nát biến mất, xung quanh hóa thành một vùng hư vô, bốn phía là ánh sáng nhàn nhạt, tựa ánh nắng ban mai.
A Hằng thu hồi Vạn Mộc Xuân, thân thể Đàn lang rơi xuống, đáp xuống đất, con mắt còn lành lặn duy nhất tràn đầy không cam lòng, nhưng đã hoàn toàn mất đi sinh khí, chẳng bao lâu sau, thân thể hắn tan thành khói, tiêu tán không còn.
Chỉ còn lại một hạt mồi lửa cuộn trào khí đen.
A Hằng vừa nhìn thấy mồi lửa đó, đã thấy Trình Tịnh Trúc giơ tay niệm chú, ánh vàng như sợi tơ bao bọc mồi lửa, rơi vào lòng bàn tay hắn.
Tạ Đạm Vân thở dốc, vội vàng xoay người lại, bóng hình Tạ Triều Yến không biết từ lúc nào đã biến mất, tim nàng thắt lại: “… Triều Yến?”
Trong trời đất của nàng, gió mưa đã hoàn toàn lắng xuống.
Bốn phía gió sương nhàn nhạt, sương đỏ quanh người A Hằng theo từng bước chân nàng chuyển động, nàng đi đến trước mặt Trình Tịnh Trúc, phát hiện hắn nhắm mắt, dường như đã hôn mê.
Hắn gần như toàn thân đẫm máu, ngay cả vạt áo vốn chỉnh tề sạch sẽ cũng trở nên xộc xệch, A Hằng quỳ ngồi trước mặt hắn, lặng lẽ nhìn hắn.
“A Hằng!”
Nàng bỗng nghe thấy giọng của Lâm Nương.
“Tiểu sư thúc! Tiểu sư thúc mọi người mau ra đây đi!” đó là giọng của Tích Ngọc.
A Hằng chậm rãi quay đầu, nhìn về phía sau.
Vùng hư vô ấy bỗng tan biến, nàng chớp mắt một cái, trên hàng mi có giọt máu đỏ thắm rơi xuống, mùi rất khó ngửi, là mùi của hồ yêu.
Trước mắt nàng là gian phòng trong Đàn viên.
Nàng quỳ ngồi trên đất, còn Trình Tịnh Trúc nằm bên cạnh.
“Tiểu sư thúc!”
Tích Ngọc gọi.
Trên giường, mí mắt Tạ Đạm Vân khẽ động, nàng tỉnh lại, vừa mở miệng đã thấy đau dữ dội, máu trào đầy miệng, nàng hoảng sợ phát hiện mình đã không còn lưỡi!
Nàng vội nhìn sang Tạ Triều Yến trên giường, Tạ Triều Yến vẫn nhắm chặt mắt, không có chút dấu hiệu tỉnh lại nào, Tạ Đạm Vân đẩy nàng, nhưng nàng ta không có chút phản ứng nào.
“Tích Ngọc, mau, tìm nơi sạch sẽ, dùng thuốc cho Tịnh Trúc.” Dương Quân nói.
Tích Ngọc vội vàng cõng Trình Tịnh Trúc lên, A Hằng vẫn ngồi trên đất, Lâm Nương gọi thế nào nàng cũng không đáp lại, ánh mắt nàng dõi theo Tích Ngọc ra cửa, thấy lưng Trình Tịnh Trúc đầy rẫy vết thương, nàng bỗng đứng bật dậy, đuổi theo ra ngoài.
Dương Quân liếc nhìn A Hằng một cái, rồi tiến lên bắt mạch cho Tạ Triều Yến, sau đó ông thở dài, nói: “Vị cô nương này hồn phách bị tổn thương, đã chết rồi.”
Hồn phách… bị tổn thương?
Tạ Đạm Vân chợt nhớ đến cú cắn của bóng hồ yêu vào bả vai Tạ Triều Yến, nước mắt lập tức trào ra, nhưng không thể nói thành lời, chỉ có thể bất lực nhìn Dương Quân.
“Tuy hồn phách bị tổn thương, nhưng chưa đến mức hồn tiêu phách tán, giờ nàng ta đã xuống Âm Ty, chỉ cần đầu thai chuyển thế, hồn phách có thẻ mượn thân xác mới để bù đắp lại.”
Dương Quân nói xong, đưa cho nàng một viên đan dược: “Cô uống cái này, miệng sẽ không còn chảy máu nữa.”
Tích Ngọc rất nhanh tìm được một gian phòng sạch sẽ, thay quần áo cho Trình Tịnh Trúc, băng bó vết thương cho hắn, rồi cho hắn uống một viên kim đan, làm xong những việc đó, hắn lại quay ra ngoài tìm thảo dược.
Lâm Nương cũng đi cùng Tích Ngọc.
Lúc này đã là nửa đêm, trên hành lang lác đác ánh đèn, A Hằng bước vào phòng, đến bên giường, nàng nhìn Trình Tịnh Trúc, sắc mặt hắn rất tái nhợt, môi không còn chút sắc máu.
Dưới ánh đèn, hàng mi dài rậm in bóng nhàn nhạt nơi mí mắt.
Trên người hắn mặc áo bào sạch sẽ, Tích Ngọc hình như vì quá vội nên chưa buộc chặt đai áo của hắn, A Hằng đưa ngón tay ra, khẽ vén vạt áo hắn, rồi chậm rãi cúi người, áp tai lên ngực hắn.
Có lẽ vì đang phát sốt, nhiệt độ cơ thể hắn hơi cao, A Hằng nghe được tiếng tim hắn đập trầm ổn trong lồng ngực hắn, đó là trái tim nàng yêu thích, cả nhịp đập của nó nàng cũng rất thích.
Nàng ngẩng đầu lên, bàn tay đặt lên người hắn, hơi nóng xuyên qua da thịt truyền vào lòng bàn tay nàng.
Nàng chắc chắn, kim thân của hắn đã bị phá.
Năm ngón tay A Hằng dần co lại, móng tay lạnh lẽo khẽ lướt trên da hắn, giờ phút này, nàng có thể dễ như trở bàn tay xé toạc lồng ngực hắn, lấy ra trái tim mà nàng khao khát bấy lâu, đặt vào thân xác của mình.
Đó là thứ nàng muốn nhất.
Ngày nào nàng cũng nghĩ đến việc làm sao để có được nó.
Mồi lửa trong lồng ngực cuộn trào, vô số thanh âm thúc giục nàng, nàng cúi xuống, nhưng bàn tay bỗng khựng lại, đôi mắt đỏ sẫm của nàng không kìm được mà dán chặt lên gương mặt hắn.
Đôi mày mắt ấy thật đẹp, khi ngủ, gương mặt này dường như cũn không còn lạnh lùng đến thế.
Nàng ở gần hắn như vậy, đầu ngón tay cũng nhiễm nhiệt độ của hắn.
Giống như, cái ôm khi ấy.
Hắn ôm chặt nàng, ghé tai nàng nói hãy cố thêm một chút, hỏi nàng có làm được không.
Nàng đương nhiên làm được, còn làm rất tốt.
Những ngón tay đang co lại của A Hằng bỗng mềm đi, lòng bàn tay nàng chống lên ngực hắn, đứng thẳng dậy, lại phát hiện nơi xương quai xanh hắn còn vương một giọt máu.
Ngay chỗ hõm thịt nối giữa xương quai xanh và vai.
A Hằng cúi đầu lần nữa, ngửi thấy mùi hương nhàn nhạt ấy, không chút do dự ghé tới, liếm sạch giọt máu kia, nhưng cũng vì thế mà khơi dậy dục vọng càng sâu hơn đối với máu của hắn.
Môi nàng khô khốc, cổ họng nóng rực.
Nhưng nàng vẫn rũ mắt, chỉnh lại vạt áo đang mở của hắn, đứng lên, xoay người lặng lẽ rời đi không một tiếng động.
Khám phá thêm từ VIVIAN THÍCH ĂN DÂU TÂY
Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.
