(*) Sinh là vai nam chính diễn, Đán là vai nữ diễn, Tịnh là những nhân vật có tính cách mạnh mẽ thường là vai mặt vẽ, Mạt là các vai phụ nam lớn tuổi.
Tác giả: Phong Ca Thả Hành
Thôi Tuệ cả ngày đều ở huyện nha sắp xếp hồ sơ vụ án, cẩn thận xem xét những tình tiết liên quan đến vụ Hứa Phụng bị sát hại, cũng như đủ loại công văn giấy tờ trong thời gian ông ta nhậm chức, và phát hiện ra một chuyện vô cùng kỳ quặc.
Hứa Phụng khi còn trẻ từng là nhân vật có tiếng ở kinh thành, không chỉ xuất thân danh môn, ông ta còn từ nhỏ đã theo học ở Quốc Tử Giám, sau khi bước vào con đường làm quan, có thể nói là sự nghiệp thuận buồm xuôi gió, mãi cho đến khi ngồi lên vị trí thái phó của thái tử, trở thành người phụ tá số một của Đông Cung, đồng thời có quan hệ rất thân thiết với Tề Huyên. Trong triều, hễ các đại thần nhắc đến người này thì không ai không khen ngợi, kính phục ông ta học thức uyên bác, phẩm chất cao khiết.
Thế nhưng trong hồ sơ ghi chép, ông ta lại là một người có hành vi quái đản.
Ngay năm đầu tiên nhậm chức ở Đan Ngọc, chỉ vì sở thích cá nhân, ông ta đã sai người đập phá sân khấu hí kịch có lịch sử trăm năm, đuổi hết các gánh hát đi và cấm diễn kịch trong thành. Sau đó, ông ta lại viện đủ loại tội danh để xử lý mấy hộ gia đình giàu có trong thành, nhưng sau khi đối chiếu sổ sách, Thôi Tuệ phát hiện số gia sản đáng lẽ phải bị tịch thu của những nhà này lại bị hụt mất một nửa, hoàn toàn không khớp với số lượng được ghi trong biên bản tịch gia. Hơn nữa, cũng kể từ đó, phủ đệ của Hứa Phụng được xây dựng trong thành, là một tòa nhà ba lớp sân, vô cùng bề thế, thậm chí ông ta còn nạp một nữ tử xuất thân thanh lâu làm thiếp.
Nếu Hứa Phụng thực sự chỉ là một kẻ làm quan bất nhân, làm chồng bất nghĩa thì cũng thôi, nhưng Hứa Phụng lại còn vô cùng cần mẫn.
Ông ta nhiều lần đi sâu vào dân gian, xây dựng học đường để những đứa trẻ có gia cảnh nghèo khó được đi học, sửa đổi quy định của huyện, trước đây muốn báo quan phải viết đơn kiện, nay hễ có oan tình đều có thể đánh trống lớn trước nha môn để kêu oan. Ông ta còn nghiêm khắc trừng trị trộm cướp, bất cứ kẻ nào làm điều phi pháp cũng đều bị tăng nặng hình phạt —— người con trai của Vương địa chủ bị chém đầu giữa đường cũng không phải trường hợp đầu tiên.
Nếu ban đầu Hứa Phụng vì phạm tội mà bị giáng chức, sau đó chịu đủ khổ cực ở vùng biên ải phía bắc nên tính tình thay đổi hoàn toàn thì còn có thể lý giải được. Nhưng nếu ông ta thực sự muốn dựa vào việc thiên vị, làm trái pháp luật, tham ô nhận hối lộ để sống những ngày sung sướng, vậy chẳng phải trở về kinh thành phục chức còn tốt hơn sao?
Đan Ngọc là nơi xa xôi, nghèo nàn và hẻo lánh, có tham ô đến đâu thì cũng chẳng kiếm được bao nhiêu, hơn nữa, nơi đây mùa đông rét buốt, thường xuyên xảy ra thiên tai tuyết lớn, mùa hè lại nóng gay gắt, thỉnh thoảng còn gặp hạn hán nghiêm trọng, hoàn toàn không phải nơi lý tưởng để an hưởng tuổi già. Không biết vì sao Hứa Phụng lại từ chối việc phục chức, lựa chọn đến nơi này nhậm chức tri huyện.
Thôi Tuệ lật đi lật lại hồ sơ, sau bữa trưa chợt nhớ đến Vương địa chủ, người vừa mất con trai, vẫn còn đang bị giam trong đại lao, liền sai người áp giải ông ta đến thẩm vấn.
Vương địa chủ với mái tóc rối bù, vừa bước vào đã quỳ sụp xuống đất, khóc lóc kêu oan, sau khi người con trai yêu quý bị chém đầu, ông ta đau buồn đến mức đổ bệnh, nằm liệt giường suốt mấy ngày, khó khăn lắm sức khỏe mới khá lên một chút, vừa ra ngoài đi lại thì nha dịch đã xông vào nhà áp giải ông ta đến đây, nói ông ta cấu kết với thổ phỉ để mưu hại Hứa tri huyện.
Vương địa chủ nói dù có cho ông một trăm lá gan, ông cũng không dám mưu hại quan lại, những lời đồn nói ông từng đến núi Thiên Lộ tìm thổ phỉ hoàn toàn là chuyện bịa đặt, rõ ràng có người cố tình vu oan cho ông.
Thôi Tuệ đập bàn, nghiêm giọng hỏi: “Chẳng lẽ chuyện dân chúng trong thành đều nói ngươi từng kết nghĩa huynh đệ với thổ phỉ cũng là vu oan?”
Vương địa chủ khóc lóc nói: “Đại nhân không biết đấy thôi! Năm xưa thổ phỉ hoành hành ngang ngược, mặc sức tác oai tác quái trong thành, những người dân buôn bán nhỏ bé như chúng ta nếu muốn yên ổn làm ăn thì chỉ có thể định kỳ nộp tiền bảo kê cho bọn chúng. Đám thổ phỉ ấy hễ nhận tiền thì sẽ tuyên bố ra ngoài rằng chúng ta là huynh đệ kết nghĩa, thảo dân là một người làm ăn thật thà, an phận, sao dám xưng huynh gọi đệ với đám ác tặc ấy? Huống hồ mấy năm trước, sau khi Hứa tri huyện đuổi bọn thổ phỉ ra khỏi thành, ta đã hoàn toàn cắt đứt qua lại với chúng, tội danh này hoàn toàn là bịa đặt, không có căn cứ!”
Thôi Tuệ thấy ông ta khóc lóc om sòm, giọng khàn như tiếng chiêng vỡ cứ gào mãi không ngừng, lúc thẩm vấn, ông ta lặp đi lặp lại cũng chỉ có mấy câu như “Ta bị oan mà!”, “Ta đáng thương quá!”. Ông ta gào đến mức khiến hai tai Thôi Tuệ ong ong, đành gọi những người khác trong nhà họ Vương đến thẩm vấn.
Đám gia nô nhà họ Vương đều nhát gan, chỉ cần bị dọa vài câu đã khai sạch sẽ như trút đậu.
Vương địa chủ tuy không nói thật, nhưng cái chết của Hứa Phụng quả thực không liên quan gì đến ông ta.
Người này nhiều năm trước quả thực từng kết nghĩa huynh đệ với thủ lĩnh sơn phỉ, thậm chí còn làm lễ trích máu ăn thề, bái nhau làm huynh đệ khác họ, sau này Hứa Phụng đến Đan Ngọc, bắt tay xử lý những hào thân có quan hệ mật thiết với đám sơn phỉ. Vương địa chủ vì muốn tránh mũi nhọn nên đành tạm thời cắt đứt qua lại với chúng.
Chỉ là sau khi phong ba qua đi, Vương địa chủ muốn nối lại quan hệ với đám sơn phỉ thì bên kia lại không còn để ý đến ông ta nữa, bất kể ông ta sai người đưa thư hay lễ vật đến bao nhiêu lần, tất cả đều bị mang nguyên vẹn trả về.
Mấy ngày trước, Vương địa chủ mất con trai, trong lòng đầy oán hận, định đem toàn bộ gia sản đi thuê người ở núi Thiên Lộ giết Hứa Phụng để báo thù, nhưng ông ta quanh quẩn dưới chân núi núi Thiên Lộ mấy vòng mà vẫn không được đám sơn phỉ để mắt tới, cuối cùng đành thất vọng trở về.
Nói đơn giản, mấy năm nay Vương địa chủ đã dùng đủ mọi cách để khôi phục quan hệ với đám sơn phỉ, nhưng chưa từng thành công, vì vậy, chuyện ông ta cấu kết với sơn phỉ để mưu hại Hứa Phụng được xác định là giả.
Thôi Tuệ thu xếp những thông tin thu được trong ngày thành hồ sơ, mãi đến đêm khuya mới viết xong, đúng lúc ấy, hộ vệ đi theo bên mình trở về, báo cáo cho hắn những gì đã chứng kiến trong ngày khi đi cùng Tề Huyên và Triệu Cách.
Từ chuyện sáng sớm bọn họ gặp Chu Hạnh, đến thanh lâu thẩm vấn, gặp mặt Lữ Hồng, đến sòng bạc điều tra, khám nghiệm tử thi ở nghĩa trang rồi cùng dùng bữa tối với đại đương gia sơn phỉ, cả một ngày bọn họ chạy tới chạy lui, làm không ít việc.
Thôi Tuệ chăm chú lắng nghe, mãi đến khi hộ vệ báo cáo xong, hắn mới trầm ngâm nói: “Quả nhiên Triệu Cách cố ý ngăn cản Lĩnh Vương điều tra vụ án.”
Hộ vệ thấp giọng hỏi: “Đại nhân dựa vào đâu mà nói vậy?”
“Lời tú bà thanh lâu nói có liên quan rất lớn đến vụ án, đưa về thẩm vấn kỹ càng vốn chẳng có gì sai, vậy mà hắn lại đứng ra ngăn cản, nhưng đến tối lúc dùng bữa, hắn lại muốn bắt một tên sơn phỉ mới chỉ có chút hiềm nghi, thử hỏi, nữ tử thanh lâu và đám sơn phỉ hung ác, bên nào dễ thẩm vấn hơn?”
Ngón tay Thôi Tuệ khẽ gõ lên mặt bàn: “Ông chủ sòng bạc nói kẻ gian phu kia không làm việc nhưng lại thường xuyên đánh bạc, ai cũng có thể nghe ra chuyện này có điều bất thường, vậy tại sao Triệu Cách lại làm như không nghe thấy, cứ nhất mực bám lấy chuyện tác phong của Hứa tri huyện mà tranh luận, rốt cuộc là con trai của Triệu thủ phụ thật sự ngu xuẩn, đầu óc chẳng có chút sáng suốt nào, hay là cố tình muốn chọc giận Lĩnh Vương, khiến hắn phân tâm? Còn vị Lục tú tài đi bên cạnh hắn, ngay cả Triệu thủ phụ cũng khá coi trọng, sao có thể là một kẻ chỉ biết khoe chữ, học thức chẳng ra gì, bọn họ chẳng qua chỉ đang giả ngây giả dại mà thôi.”
Hắn nhìn ngọn nến đang lay động, thở dài: “Đan Ngọc quả nhiên có vấn đề, mới ngày đầu tiên đến đây mà đã lôi ra được nhiều chuyện đến thế, chuyện liên quan đến quỷ thần tạm thời chưa bàn đến, nào là tham ô ở sông Đại Vận Linh Châu, nào là một tên du thủ du thực vô danh cất giấu vàng, rồi cả đám sơn phỉ hung ác trên núi bị tình nghi. Bây giờ xem ra, nguyên nhân cái chết của Hứa Phụng chưa chắc đã là chuyện lớn nhất.”
Hộ vệ hỏi: “Có cần viết thư báo tin cho Ngự sử đại nhân không?”
Thôi Tuệ không lập tức trả lời, mà đứng dậy, chậm rãi bước đến bên cửa sổ rồi đẩy cửa mở ra, gió lạnh gào thét ùa vào, dưới ánh sáng lẻ loi của vài ngọn đèn, những hạt tuyết nhỏ li ti bay theo gió vào trong, rơi trên gương mặt hắn rồi tan thành những giọt nước men theo khuôn mặt trẻ tuổi mà chảy xuống.
Thôi Tuệ xuất thân từ một gia đình hàn môn đã sa sút, được Tả Đô ngự sử của Đô Sát Viện một tay bồi dưỡng, là tâm phúc của ông ta.
Hắn vẫn nhớ đêm hôm kia, Tả Đô ngự sử đích thân đến nhà, cùng hắn ngồi bên đèn nói chuyện thâu đêm, ngài chỉ rõ cái chết của Hứa Phụng có nhiều điều kỳ quặc, mà Triệu thủ phụ lại nhất quyết nhúng tay vào, chắc chắn ở Đan Ngọc đang che giấu chuyện gì đó không thể để người khác biết.
Triệu thủ phụ và Tả Đô ngự sử nhiều năm nay vẫn đối đầu nhau trên triều đình, vì bất đồng quan điểm trị quốc mà chưa từng ngừng tranh đấu công khai lẫn âm thầm. Sau khi biết Triệu thủ phụ còn phái cả con trai mình đến Đan Ngọc điều tra vụ án, Tả Đô ngự sử lập tức điều Thôi Tuệ đi theo.
Bởi vậy, ngay từ đầu Thôi Tuệ đã không đến đây chỉ để điều tra cái chết của Hứa Phụng, mà là muốn xem rốt cuộc người nhà họ Triệu đang giở trò gì. Tuy trước đây hắn chưa từng làm chuyện như vậy, nhưng đối phương chẳng qua chỉ là một tay công tử ăn chơi trác táng, hắn tự thấy mình vẫn có thể đối phó được.
“Không cần, trước tiên cứ theo dõi sát Triệu Cách, xem rốt cuộc hắn muốn che giấu chuyện gì.” hắn xoay vai, thả lỏng đôi cánh tay có phần cứng nhắc, rồi hỏi: “Vương gia đang ở đâu?”
Hộ vệ đáp: “Ở nghĩa trang.”
“Vương gia kính trọng thầy, ta có thể hiểu được, nhưng tình cảm mà ảnh hưởng đến việc lớn thì không ổn, bao nhiêu năm rồi, người này vẫn chưa học được cách không để cảm xúc lộ ra ngoài.” nghĩ đến dáng vẻ Tề Huyên nổi giận với Phùng Tông tối qua, Thôi Tuệ liên tục thở dài, “Ngươi thay ta đến đó một chuyến, khuyên vương gia nén bi thương, chớ quá đau lòng.”
Tuyết nhỏ phủ kín bầu trời, gió lạnh cuồn cuộn, đập vào cửa sổ tạo nên những âm thanh tiêu điều.
Tề Huyên không trở về nơi ở, sau khi rời khỏi tửu lâu, hắn đi thẳng đến nghĩa trang. Đêm đã khuya, vắng lặng không một bóng người, thị vệ đứng canh bên ngoài, trong phòng chỉ còn lại một mình hắn, ngọn nến trắng chập chờn lay động, soi bóng hắn lúc sáng lúc tối, lặng lẽ đung đưa qua lại trong gian phòng đặt thi thể trống trải.
Tề Huyên đứng trước quan tài, trong lòng không khỏi oán trách, người thầy của hắn, một bậc trí giả vừa có đức vừa có tài, học vấn uyên bác, xuất thân từ danh môn vọng tộc. Dù từ nhỏ đã cần cù, tiết kiệm, đến những năm cuối đời cũng không còn được như thời kỳ huy hoàng trước kia, nhưng đáng lẽ ông không đến mức sau khi chết lại phải nằm trong một cỗ quan tài rách nát thế này, đồ cúng cũng chỉ có một con gà và mấy chiếc màn thầu, quả thực nghèo nàn đến đáng thương.
Mười hai năm trước, hắn bị vu oan tội mưu hại tiên đế, vì thế bị phế khỏi ngôi thái tử, giam cầm tại Hối Quá Cốc. Ngày hôm đó cũng lạnh như hôm nay, tuyết lớn bay đầy trời, thầy hắn vừa mới ốm một trận, vậy mà vẫn chống gậy, giẫm trên lớp tuyết dày, từng bước từng bước đi đến trước cửa phòng hắn, cách qua khe cửa mà nước mắt lưng tròng.
Cho đến tận bây giờ, Tề Huyên vẫn nhớ rất rõ những lời ông nói: “Chuyến này đến Tái Bắc đường xa nghìn dặm, e rằng không thể thường xuyên đến thăm điện hạ, mong người nhất định phải bảo trọng thân thể. Dù cách kinh thành xa xôi ngàn núi vạn sông, nhưng chỉ cần lão phu còn một hơi thở, ta nhất định sẽ tiếp tục truy tra kẻ đã hãm hại điện hạ, chỉ chờ đến ngày điện hạ được rửa sạch oan khuất, công thành danh toại, chúng ta lại gặp nhau ở Đông Cung.”
Năm Tề Huyên lên năm tuổi, hắn đã bái Hứa Phụng làm thầy, từ đó về sau, đạo lý đối nhân xử thế, học vấn trị quốc của bậc quân vương, lý tưởng làm quan yêu dân, cùng với cách hắn hiểu về mọi phẩm chất cao quý, phong thái quân tử, sự rộng lượng và nhân ái trên cõi đời này, đều là do Hứa Phụng hơn mười năm tận tâm dạy dỗ, từng chút từng chút tạo nên.
Vì vậy, dựa vào câu nói “chúng ta lại gặp nhau ở Đông Cung” ấy, suốt mười hai năm qua Tề Huyên nghiến răng chịu đựng, gắng gượng sống tiếp, lăn lộn giữa bao khổ cực, chịu đủ mọi giày vò nhưng chưa từng chịu từ bỏ. Nào ngờ, cuộc gặp năm xưa qua khe cửa ấy lại trở thành lần vĩnh biệt của thầy trò hai người.
Giờ đây khi đến Đan Ngọc, tất cả mọi người đều nói với hắn rằng Hứa Phụng là một tên tham quan tư lợi, coi thường pháp luật, phẩm hạnh thấp kém, làm đủ chuyện ác, chết là đáng đời.
Tề Huyên nhẹ nhàng vuốt ve con ngựa gỗ nhỏ trong tay, đứng trước quan tài nhìn người lão nhân đã trải qua bao sương gió ấy, chỉ cảm thấy nỗi đau trong lòng khó mà chịu đựng nổi. Hai mắt hắn nóng lên, nước mắt chẳng kìm được mà trào ra, hắn khẽ hỏi: “Thầy, đây có phải là hình phạt mà người dành cho con không?”
Tuyết ở Đan Ngọc rơi vô cùng dữ dội, chỉ trong chốc lát, tuyết đã lớn như lông ngỗng, phủ lên mặt đất một tầng mây mềm trắng tinh không vương bụi trần. Đêm xuống, huyện nha vẫn sáng đèn, từ phòng Triệu Cách vọng ra tiếng đàn khe khẽ, du dương êm tai.
Một mỹ thiếp có dung mạo nghiêng nước nghiêng thành đang dùng đôi tay trắng nõn nhẹ nhàng gảy đàn. Triệu Cách lần chuỗi hạt trong tay, cúi đầu nhắm mắt trầm tư, hai bên hắn lần lượt là Lục Chước Quang đang ngồi đọc sách dưới ánh đèn, và Lý Ngôn Quy ngồi đó với vẻ mặt không chút biểu cảm.
“Đám khốn kiếp này đúng là gây cho chúng ta không ít chuyện.” Triệu Cách vừa xoa thái dương vừa than thở, hắn mắc chứng đau nửa đầu dai dẳng, là bệnh bẩm sinh từ trong bụng mẹ, hễ suy nghĩ quá nhiều là sẽ phát tác, đau đến mức chỉ hận không thể đập đầu vào tường, giọng điệu cũng đầy vẻ cáu kỉnh: “Tên ngỗ tác đó khám nghiệm ra được thứ gì?”
Lý Ngôn Quy lấy từ trong tay áo ra một vật, mở lớp vải gai bọc bên ngoài, bên trong là một chiếc bình sứ nhỏ chỉ rộng khoảng một tấc, hắn nói: “Chiếc bình sứ này được mổ lấy ra từ trong bụng Hứa đại nhân.”
Triệu Cách nhận lấy đồ vật, còn chưa kịp mở ra thì nghe bên ngoài có tiếng động khẽ, hắn gọi một tiếng: “Trường Lạc.”
Mỹ thiếp Trường Lạc dừng gảy đàn, đứng dậy mở cửa, một tên thị vệ mang theo những mảnh tuyết vụn trên vai vội vàng bước vào, cúi người hành lễ: “Đại nhân, thuộc hạ đã đến trước người của vương gia một bước. Tên Trâu Nghiệp không có ở nhà, sau khi cẩn thận lục soát, thuộc hạ tìm thấy một chiếc hộp được giấu trong ngăn bí mật dưới gầm giường hắn.”
Nói rồi hắn dâng chiếc hộp lên, mỹ thiếp Trường Lạc nhận lấy, mang đến bên cạnh Triệu Cách, thuận thế ngồi lên đùi hắn: “Nặng thật đấy, bên trong đựng thứ gì vậy?”
Chiếc hộp được khóa lại, nhưng Trường Lạc chỉ dùng hai ngón tay trắng nõn vặn nhẹ một cái, khóa lập tức gãy đôi, nàng mở nắp hộp, bên trong là những viên đá đen lớn nhỏ khác nhau, nàng không khỏi bĩu môi, bất mãn nói: “Thì ra chỉ là mấy hòn đá vụn.”
Triệu Cách sa sầm mặt: “Nàng nhìn kỹ lại đi, đây là đá sao?”
Trường Lạc lấy một viên nhỏ từ trong hộp, đưa lên dưới ánh nến, những tia sáng li ti bên trong lập tức phản chiếu ra ngoài, nàng kinh ngạc nói: “Là vàng.”
Triệu Cách siết chặt viên đá trong lòng bàn tay, khóe môi nhếch lên thành một nụ cười lạnh: “Phụ thân quả nhiên liệu sự như thần, có kẻ muốn lợi dụng cái chết của Hứa Phụng để âm thầm gây chuyện. Đối phương đã có chuẩn bị từ trước, tính toán sẵn hết thảy, chỉ chờ chúng ta nhảy vào bẫy, đúng là đến ăn Tết cũng không cho người ta được yên.”
Trường Lạc hiểu rất rõ việc những thứ vàng đá này xuất hiện vào lúc này đối với bọn họ chỉ có hại chứ không có lợi, thậm chí còn là chuyện vô cùng nguy hiểm, nàng ôm chiếc hộp, đề nghị: “May mà công tử quyết đoán, đã đi trước một bước cướp được hộp vàng đá này, nếu không hậu quả thật khó lường. Thứ này tuyệt đối không thể để bọn người Lĩnh Vương nhìn thấy, hay là để ta mang đi tiêu hủy ngay tại chỗ.”
“Hoảng gì chứ, tình hình hiện tại vẫn nằm trong tầm kiểm soát, mấy con kiến nhỏ bé đó chẳng thể gây nên sóng gió gì, không cần tự làm rối loạn trận tuyến. Chỗ vàng đá này ta giữ lại còn có việc khác dùng đến.” Triệu Cách mở chiếc bình sứ trong tay, bên trong nhét một mảnh giấy được cuộn lại, hắn lấy ra rồi trải phẳng, chỉ thấy trên đó viết hai câu:
Biển ép cành tre cúi rồi lại vươn, gió thổi góc núi tối rồi lại sáng.
“Đúng là một bài thơ hay.” Trường Lạc đứng dậy đi vòng ra phía sau, nhẹ nhàng xoa bóp đầu cho Triệu Cách, mỉm cười duyên dáng, “Hứa Phụng quả thật đã dụng tâm vì Lĩnh Vương, một chiếc bình sứ lớn như vậy mà cũng nuốt vào bụng được.”
“Giả thần giả quỷ, thật sự cho rằng chỉ chết một huyện quan nhỏ bé là có thể lật lại chuyện năm xưa sao?” hắn cười đầy ý vị, tiện tay ném mảnh giấy lên bàn, nhắm mắt hưởng thụ sự xoa bóp, “Hôm nay Tề Huyên đã biết quá nhiều chuyện, không thể để hắn tiếp tục điều tra, nếu để hắn tra ra chuyện mấy năm trước thì cả ta và nàng đều chẳng có kết cục tốt đẹp. Phái người canh chừng nhà Trâu Nghiệp, một khi hắn xuất hiện thì lập tức diệt khẩu, đừng cho bọn chúng bất kỳ cơ hội nào.”
Ban ngày Trường Lạc không đi theo điều tra, nhưng cũng đã nghe Lý Ngôn Quy kể đại khái tình hình, nàng nói: “Nếu quả thực có người đứng sau âm thầm thao túng, chỉ giết một mình Trâu Nghiệp e rằng chưa đủ, điều đáng lo là Tề Huyên cứ nhất quyết điều tra đến cùng ở Đan Ngọc. Những người hôm nay chúng ta gặp, kể cả Chu Hạnh, đều có liên quan đến nàng ta, nàng ta rõ ràng cố ý dẫn dắt mọi chuyện, chắc chắn không thể là người ngoài cuộc, theo ta thấy, nên diệt khẩu cả nàng ta.”
“Tề Huyên nào có gan nhổ tận gốc như vậy, trong nhà hắn còn có vợ con đang chờ hắn trở về ăn Tết, chỉ cần dọa cho hắn sợ một chút, chắc hắn sẽ biết đường dừng lại.” Triệu Cách chẳng mấy để tâm, “Chu Hạnh chẳng qua chỉ là một tiện dân xuất thân từ chốn phố phường, làm sao có thể biết chuyện triều đình? Hẳn chỉ là một quân cờ bị người khác sai khiến, hơn nữa, cái kiểu nịnh nọt lấy lòng của nàng ta cũng chẳng khác gì Lữ Hồng, không đáng để sợ, thay vì nghi ngờ nàng ta, chi bằng nói Phùng Tông, kẻ đã mời nàng ta đến, còn đáng nghi hơn.”
Hôm nay Triệu Cách đã gặp quá nhiều người, chỉ cần sơ sẩy một chút là đầu óc đã rối thành một mớ. Từng gương mặt lần lượt lướt qua trước mắt hắn, hắn đoán rằng có người chắc chắn đã được sắp đặt từ trước, nhưng cũng có người chỉ đơn thuần bị lợi dụng.
Vì vậy, hắn chọn lọc từng chút một, suy nghĩ hồi lâu rồi mới nói: “Những chuyện này chắc chắn không thể không liên quan đến Đô Sát Viện. Thôi Tuệ e rằng chính là kẻ đứng đầu ván cờ này, cho nên hôm nay hắn mới không đi cùng chúng ta, cố ý phủi sạch quan hệ, phái người theo dõi động tĩnh ở sòng bạc, hễ có gì bất thường thì lập tức báo cho ta. Trước mắt chúng ta cứ án binh bất động, xem Thôi Tuệ định làm gì. Nếu hắn thực sự gây trở ngại thì cứ để hắn ở lại Đan Ngọc, khỏi cần trở về nữa, dù sao nơi này đất hoang nhiều, chôn thêm một người cũng chẳng chật.”
Lý Ngôn Quy gật đầu, Trường Lạc cũng phụ họa: “Công tử nói rất có lý, quả nhiên thông tuệ.”
Chỉ có người bên cạnh hắn từ đầu đến cuối vẫn không nói một lời, cứ như hoàn toàn đứng ngoài tất cả mọi chuyện.
Triệu Cách liếc hắn một cái, trên mặt không còn vẻ nhiệt tình xưng huynh gọi đệ như ban ngày, nói: “Đêm qua sau khi về phòng, ngươi làm gì?”
Lục Chước Quang cũng chẳng ngẩng đầu: “Luyện chữ.”
Khóe miệng Triệu Cách giật giật: “Có thể làm chút chuyện hữu ích hơn được không? Chu Hạnh xem ra có ý với ngươi, có thể lợi dụng, lần sau gặp nàng ta thì thân thiết hơn một chút, đừng lạnh lùng quá, vì chuyện chính, nhẫn nhịn một chút thì có sao?”
Lục Chước Quang không đáp, chỉ nhìn thần sắc cũng có thể đoán được là hắn không đồng tình.
Thái độ hờ hững của hắn khiến Triệu Cách vô cùng tức giận, lập tức nổi cáu: “Ta đang nói chuyện với ngươi đấy! Ngươi cứ nhìn chằm chằm vào quyển sách rách này làm gì? Ngươi phải nhìn ta rồi trả lời chứ!”
Lục Chước Quang từ từ ngẩng đầu, hHắn có một khuôn mặt tuấn tú, nho nhã, khóe môi hơi cong lên, ngay cả khi không biểu cảm cũng phảng phất một chút ý cười: “Triệu Cách, hình như ngươi luôn quên mất rằng ngươi vốn chẳng có một khuôn mặt khiến người khác muốn ngắm.”
Quả thực hoàn toàn khác với vị Lục tú tài ôn tồn nhã nhặn ban ngày.
“Ngươi!” Triệu Cách đập bàn đứng bật dậy.
Đây vốn là màn thường xuyên diễn ra, Lý Ngôn Quy và Trường Lạc đã quá quen thuộc, lập tức đồng thanh khuyên nhủ: “Công tử bớt giận.
Lục Chước Quang vẫn giữ nguyên vẻ mặt, chẳng hề cảm thấy lời mình vừa nói có gì quá đáng, hoàn toàn không sợ cơn giận của Triệu Cách.
Thế nhưng Triệu Cách cũng có phần kiêng dè hắn, đặc biệt là đang ở bên ngoài, càng không thích hợp trở mặt với Lục Chước Quang, hắn trừng mắt nhìn hồi lâu, cuối cùng vẫn nuốt cơn giận xuống, phất tay đuổi khách: “Cút hết đi!”
Lục Chước Quang trực tiếp khép sách đứng dậy, thẳng thừng rời khỏi phòng. Thân phận của hắn khác với hai người còn lại, từ khi còn thiếu niên, hắn đã được Triệu thủ phụ nhận làm nghĩa tử, đặt tên là Lục Liễm, vì vậy xét về thân phận, hắn và Triệu Cách ngang hàng, không phải cấp dưới, chỉ là để tiện hành sự thường ngày, hắn mới nói với bên ngoài tự xưng là môn khách.
Bên ngoài lúc này đã phủ kín một lớp tuyết trắng bạc, tuyết lớn bay đầy trời, Lục Chước Quang che ô, chậm rãi bước đi, để lại một hàng dấu chân trên nền tuyết. Lý Ngôn Quy hành lễ rồi bước ra ngoài, nhìn thấy bóng dáng hắn giữa màn tuyết, bèn xách đèn, bước nhanh ba bước thành hai, đuổi theo đi song song bên cạnh.
Chỗ ở của hai người không nằm trong huyện nha, để tiện làm việc, họ thuê một căn nhà khác trong thành, vì thế vừa hay cùng đường.
Lục Chước Quang hoàn toàn không có ý định chia sẻ chiếc ô giấy với người khác, vừa ra khỏi huyện nha, Lý Ngôn Quy đã bị tuyết phủ kín người, trông chẳng khác nào khoác một bộ áo trắng. Hắn đột nhiên lên tiếng hỏi Lục Chước Quang: “Ngài có suy nghĩ gì về chuyện hôm nay?”
Không biết từ lúc nào Lục Chước Quang đã tiện tay lấy được một viên vàng nhỏ, lúc này hắn đang thong thả vê nó trong tay, chăm chú quan sát, chẳng trả lời câu hỏi mà lại nói một câu chẳng liên quan: “Sân khấu mới dựng xong đều có một nghi thức phá đài.”
Lục Chước Quang thích xem kịch không phải chuyện bí mật, những lúc rảnh rỗi, hắn thường chạy đến bên ngoài các rạp hát ở kinh thành để nghe người ta diễn, có khi vì không mua được vé mà tức giận, thậm chí ngay cả ngày rời kinh lên đường, hắn cũng nhất định phải đứng chờ bên ngoài rạp hát cho đến khi có người đến đón.
Lý Ngôn Quy hỏi: “Chuyện này có liên quan gì đến câu hỏi vừa rồi của ta?”
Lục Chước Quang tiếp tục: “Phá đài phải giết một con gà sống, chặt đầu, rải đầy gạo, bột và tiền đồng xuống đất, sau đó để hai con quỷ đen trắng đi quanh sân khấu, trừ uế phá tà, cầu mong những buổi diễn sau này được thuận lợi, làm ăn phát đạt.”
Lý Ngôn Quy sững người, lập tức hiểu ra, những gì Lục Chước Quang nói hoàn toàn giống với nơi Hứa Phụng bị sát hại, người gõ mõ canh đêm bị dọa đến hồn vía lên mây kia cũng từng nói tận mắt nhìn thấy hai tên âm sai, một đen một trắng, chạy ra từ phủ Hứa. Ghép hai chuyện lại, chẳng phải vừa khớp với nghi thức phá đài hay sao?
Lục Chước Quang nói: “Có người lấy nơi Hứa Phụng bị sát hại làm sân khấu, thực hiện một nghi thức phá đài, kéo màn lên và diễn cho chúng ta xem một vở kịch.”
Lý Ngôn Quy: “Ai?”
“Đừng mở miệng ra là hỏi ngay.” Lục Chước Quang liếc hắn một cái, “Động não nhiều hơn đi, nghĩ thử xem hôm nay ngươi đã gặp những ai.”
Thế là Lý Ngôn Quy bắt đầu suy nghĩ. Nếu muốn diễn kịch thì tất nhiên không thể thiếu các vai sinh, đán, tịnh, mạt, sửu, mà từ sáng sớm bước vào thanh lâu, những người hắn gặp gồm có tú bà xinh đẹp Đào Anh, ông chủ Tiêu Thiệp Xuyên tuấn tú, ngỗ tác Ngỗi Cốc Vũ tuổi đã cao, sơn phỉ Viên Sát thân hình cường tráng…
Càng cẩn thận suy nghĩ, hắn càng nhận ra những người này dường như lần lượt đối ứng với đủ loại vai diễn. Dưới ánh đèn, Lý Ngôn Quy nhìn viên vàng đang lấp lánh trong tay Lục Chước Quang, lập tức nhận ra, vừa rồi hắn không nói những điều này trước mặt Triệu Cách, khiến Triệu Cách suy nghĩ sai hướng, hoàn toàn là cố ý.
Lý Ngôn Quy kinh ngạc nhận ra mình đã mắc bẫy, hắn nghi ngờ rằng vừa rồi Lục Chước Quang cố tình đi chậm chạp như vậy, chính là để chờ hắn đuổi theo.
Vì từ nhỏ thể chất đã yếu, Triệu Cách dần hình thành tính cách chuyên quyền độc đoán, cố chấp tự phụ, hoàn toàn chẳng liên quan gì đến chữ “Khiêm” trong tên tự của hắn, nếu bây giờ quay lại nói cho hắn biết những suy đoán vừa rồi đều sai, e rằng đêm nay sẽ chẳng thể nào yên ổn.
Lý Ngôn Quy lập tức rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan, ngay cả việc có nên hỏi tiếp hay không cũng trở thành vấn đề, nhìn vẻ ngoài thâm sâu khó lường của Lục Chước Quang, hắn càng cảm thấy người này đáng ghét.
Lục Chước Quang đợi một lát, quả nhiên lên tiếng thúc giục: “Sao không nói gì?”
Lý Ngôn Quy âm thầm cân nhắc Lục Chước Quang và Triệu Cách một phen, cảm thấy Lục Chước Quang càng khó đối phó hơn, bèn tiếp tục hỏi: “Nếu bọn họ thực sự cùng một phe, vậy ai là kẻ đứng đầu?”
“Ngươi từng nghe câu ‘Không có vai hề thì không thành vở diễn’ chưa? Vai hề trong gánh hát xưa nay luôn có địa vị vô cùng quan trọng, bản lĩnh cao thâm, địa vị cũng cao, phần lớn còn là người đứng đầu cả gánh hát.” Lục Chước Quang thản nhiên nói, “Vai hề của vở kịch lớn này đã gặp chúng ta từ sớm rồi.”
Lý Ngôn Quy: “Ý ngài là Phùng Tông?”
“Không.” Lục Chước Quang khẽ cụp mắt, nhớ lại người tối nay say khướt trong phòng riêng ở tửu lâu, khi nàng ngã nhào vào người hắn, đôi tay không an phận kia đã sờ loạn khắp người hắn, lạnh lẽo như bàn tay của người chết, gần như chẳng cảm nhận được chút hơi ấm nào.
Thế nhưng đôi mắt màu hổ phách kia, nhìn thì tưởng đã say, lại vẫn sáng rõ đến lạ.
“Là Chu Hạnh.”
Tuyết lớn phủ kín huyện Đan Ngọc, trên đường đã chẳng còn bóng người, chỉ còn một màu đen tĩnh mịch. Hai tên thị vệ cầm đèn lồng đưa Chu Hạnh đến Phong Nguyệt Lâu, nơi đèn đuốc vẫn còn sáng.
Chu Hạnh say khướt, bước thấp bước cao, đế giày lún sâu vào lớp tuyết dày, khiến cả người trông như cao thêm một đoạn. Nàng đứng trước cửa, giậm giậm giày cho sạch tuyết rồi mời hai thị vệ vào uống vài chén trước khi đi. Hai thị vệ còn phải về báo cáo, vội vàng xua tay từ chối.
Chu Hạnh cũng không ép buộc, lấy ra một mẩu bạc vụn nhét vào tay họ, cười hì hì: “Trời lạnh quá, ta không giữ hai vị đại ca lại nữa, trên đường về nhớ cẩn thận nhé.”
Nói xong, nàng liền như một chú cá nhỏ lách vào trong thanh lâu, nhưng hai tên thị vệ lại không lập tức rời đi, mà thò đầu vào bên trong, lén lút quan sát tình hình.
Chỉ thấy Chu Hạnh vô cùng thân thuộc với các cô nương trong thanh lâu, suốt dọc đường đi, nàng liên tục chào hỏi những cô nương khác nhau, khi thì sờ má người này một cái, khi thì véo eo người kia một cái, lúc lên lầu, nàng còn tiện tay đỡ một cô nương suýt đứng không vững, kết quả lại được đối phương nhét cho một quả nho vào tay, cười đến mặt mày rạng rỡ.
Bộ dạng ấy của nàng trông chẳng khác nào đã đắm mình trong chốn tiêu tiền như nước này nhiều năm, chỉ cần có vài phần men rượu dâng lên là vui quên đường về, mặc sức hưởng lạc suốt đêm, tận hưởng chốn phong nguyệt vô biên.
Hai tên thị vệ chỉ biết than thở người với người đúng là số phận khác nhau, tiếc nuối thu lại ánh mắt ngưỡng mộ, đội gió tuyết trở về báo cáo.
Khóe môi Chu Hạnh vẫn mang nụ cười lêu lổng, nàng vừa đi vừa đùa giỡn với các cô nương, lên thẳng tầng hai rồi đi về phía góc khuất nhất.
Nơi đó ngăn cách bởi một cánh cửa hành lang, vừa bước vào, mọi âm thanh ồn ào bên ngoài lập tức bị ngăn cách, tiếng đàn và tiếng cười đùa dần biến mất, thay vào đó là tiếng cãi vã vọng ra từ trong phòng.
“Suốt ngày ông nghiên cứu mấy thứ thuốc linh tinh này làm gì? Có thấy thứ nào dùng được vào việc chính đâu.”
“Tin không, ta chỉ cần cho ngươi uống một bát thuốc là đám gà mái ngươi nuôi sẽ chẳng đẻ nổi một quả trứng nào.”
Có người đứng ra can ngăn: “Đừng ồn nữa, nói nhỏ thôi.”
Có người kéo nhị hồ nghe ai oán đến đứt từng khúc ruột, thê lương đến mức khiến người ta muốn tự bịt tai để tìm chút yên tĩnh.
Nhưng khi Chu Hạnh đẩy cửa bước vào, tất cả những âm thanh hỗn tạp ấy lập tức biến mất, một luồng hơi ấm phả vào mặt, mang theo hương thơm nhàn nhạt, nàng hít mạnh mấy hơi rồi mắng: “Lạnh chết đi được, ông trời chết tiệt này rốt cuộc định đổ bao nhiêu trận tuyết nữa, muốn đóng băng chết hết mọi người hay sao?”
Tất cả mọi người đồng loạt đứng dậy, cúi đầu cung kính nghênh đón: “Thiếu chủ.”
Đào Anh lập tức bước tới, vắt chiếc khăn nóng từ chậu nước đưa cho nàng lau mặt và tay, lại kéo một chiếc áo khoác lông mặc lên người nàng, đồng thời nhét vào tay nàng một lò sưởi cầm tay nóng hổi, vừa phủi những vụn tuyết bám trên tóc nàng, nàng ta vừa quan tâm hỏi: “Đêm đã khuya thế này, sao không bảo đám quan lại kia dùng xe ngựa đưa cô về?”
“Có đi bao xa đâu, đi vài bước là tới rồi.” Chu Hạnh chẳng để tâm, đi vào phía trong, đến chiếc ghế ở vị trí đầu tiên rồi ngồi phịch xuống, cả người mềm nhũn dựa vào lưng ghế như không có xương, nàng tùy ý phất tay, lúc này những người khác trong phòng mới lần lượt ngồi xuống.
Hai bên chiếc bàn dài lần lượt là Tiêu Thiệp Xuyên, người ôm cây nhị hồ, rảnh rỗi là lại hành hạ đôi tai người khác; Đào Anh, người vừa chạy tới chạy lui vừa đứng giữa can ngăn; Viên Sát, trên vai đậu một con vẹt lông đen; và Ngỗi Cốc Vũ, trước mặt bày đủ loại thảo dược.
Bọn họ không hẹn mà cùng im lặng, chăm chú nhìn Chu Hạnh.
Chu Hạnh ngậm một ngụm trà nóng súc miệng, xua bớt mùi rượu trong miệng, rồi lại uống thêm một ngụm, hơi ấm từ cổ họng trượt xuống bụng, theo dòng máu lan ra tứ chi, từng chút một làm tan những mảnh băng giá đã thấm vào tận xương. Những ngón tay gần như tê cứng vì lạnh cuối cùng cũng dần lấy lại cảm giác, cơ thể từng bước ấm lên.
Đến khi ngẩng mắt nhìn lên, vẻ nịnh nọt ban ngày trên gương mặt nàng đã hoàn toàn biến mất, khí chất của một dân thường nơi phố chợ cũng tan sạch, đôi mắt nâu dưới ánh đèn trở nên sắc bén đến mức lạnh lùng, trong trẻo mà trầm tĩnh: “Các vị vất vả rồi, trước tiên nói một tin tốt.”
Ánh mắt nàng lướt qua từng người, giọng bình thản: “Chúng ta đã gặp được một người hiểu rõ chuyện này.”
Khám phá thêm từ VIVIAN THÍCH ĂN DÂU TÂY
Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.
