Hóa Thần – Chương 40

Hóa Thần – Chương 40

Tác giả: Sơn Chi Tử

Đêm mưa như những sợi dây, hàng ngàn hàng vạn sợi chảy dọc theo mái hiên, A Hằng mỉm cười nghiêng người tới, nhưng hắn lại nghiêng mình tránh đi, nửa vạt áo cũng không để A Hằng chạm tới.

Ngoài hiên nước chảy rào rạt, gió lạnh thổi tăt chiếc đèn lồng trên đầu hai người, A Hằng đứng trong khoảng tối mờ mịt ấy, nét cười trong đáy mắt lập tức biến mất.

Ánh mắt hắn trong trẻo lạnh lẽo, sạch sẽ tới cực điểm, cũng lạnh lẽo tới cực điểm, một người như thế, bàn tay lại nóng đến vậy, A Hằng nhìn hắn, bỗng hỏi: “Huynh sẽ luôn giúp ta chứ?”

Trình Tịnh Trúc nhìn chằm chằm nàng.

A Hằng nói: “Ta là nói, huynh sẽ giúp ta cho đến khi ta lấy được gốc chấp của hai con gái họ Tạ sao?”

Môi nhạt của Trình Tịnh Trúc khẽ hé, thốt ra một chứ: “Sẽ.”

Hắn không hề do dự, A Hằng cũng không tìm thấy chút sơ hở nào trên nét mặt hắn, nàng khẽ cười, chậm rãi nói: “Nhưng tại sao chứ? Tiểu thần tiên, ban đầu huynh giúp ta tạo thân xác, rồi lại giúp ta rời khỏi Âm Ty… đừng nói là không, huynh không nói ta cũng biết, Diêm Vương sao có thể dễ dàng tha cho ta? Là huynh đưa ta ra. Hiện giờ, huynh lại sẵn lòng giúp ta lấy gốc chấp của hai con gái họ Tạ, huynh nói xem, tại sao huynh lại đối xử tốt với ta như thế?”

Ngoài hiên mưa sương mịt mù, dưới hành lang nàng càng lúc càng ép sát, Trình Tịnh Trúc đưa một ngón tay chặn lên trán nàng, không cho nàng tới gần hơn, trong bóng tối âm u, nốt chu sa giữa mày hắn càng làm gương mặt hắn thêm vẻ lạnh nhạt tái nhợt, hắn không đáp, mà chỉ nói: “Giao mồi lửa ra, cô đã thấy sự lợi hại của nó, thì nên hiểu, nó không phải thứ dễ khống chế.”

“Nó quả là lợi hại thật.”

A Hằng rất ghét nó lải nhải suốt, hễ có cơ hội lại réo bên tai nàng không ngừng, nhưng giờ phút này, A Hằng khẽ cong ngón tay, một đốm mây đỏ chợt hiện, trong đó xen lẫn vài sợi đen, như tim ngọn nến trong lửa, ánh lửa phản chiếu gương mặt nàng: “Nhưng đây chính là thứ ta muốn.”

Từ khi có được mồi lửa này, nàng rõ ràng cảm thấy sức mạnh của mình nhờ nó mà trở nên mạnh mẽ hơn, giá như nàng sớm có được nó, khi còn ở Âm Ty, thì bị hủy không chỉ là một tòa phủ Cực U.

“Huynh giúp ta là vì mồi lửa ư?” A Hằng thu tay, đốm sáng lập tức biến mất, nàng vô thức né ngón tay Trình Tịnh Trúc còn chặn trên trán mình, nghiêng người tới gần hắn: “Còn lúc ở Xích Nhung thì sao? Khi ấy ta chưa có mồi lửa, huynh cho ta máu, lại đưa ta ra ngoài, vì sao?”

Nàng quả thực ương bướng khó dạy, Trình Tịnh Trúc mặt không biểu cảm, quay người ra ngoài hành lang.

A Hằng đứng bên cửa, đèn lồng dưới mái hiên chao đảo, lúc tắt lúc sáng, nàng nhìn bóng lưng cao gầy của hắn hòa vào bóng tối, trong màn mưa lất phất, tiếng hắn mơ hồ vọng lại: “Cẩn thận kẻo chơi với lửa tự thiêu mình.”

“Không nói thì thôi,” tiếng mưa đên rả rích, A Hằng dựa vào khung cửa, bĩu môi, “keo kiệt.”

Cuối thu ở Bành Châu rất hay mưa, càng mưa trời càng lạnh, hai vị Tạ tiểu thư sau khi tỉnh dậy liền ngày ngày nhốt mình trong khuê phòng không chịu gặp khách lạ, dù là đại phu nhân Tôn thị hay Tạ nhị gia, họ dỗ dành khuyên bảo con gái mình thế nào, thì hai vị tiểu thư cũng vẫn không chịu gặp hai vị tiên trưởng của cung Tử Tiêu Thượng Thanh, Tạ nhị gia hết cách, nhưng nghe nói Trình Tịnh Trúc còn phải ở lại Bành Châu ít lâu, ông sợ hai vị tiên trưởng vừa rời đi, con gái mình lại xảy ra chuyện, liền khăng khăng giữ họ ở lại phủ.

Trình Tịnh Trúc cũng không từ chối, hắn dựng một sạp khám bệnh miễn phí trong thành, cùng Tích Ngọc phát thuốc cứu người, bá tánh trong thành nghe tin hai vị tiên trưởng của điện Dược Vương cung Tử Tiêu Thượng Thanh đang cứu tế chúng sinh ở đây, trong vòng mấy ngày, người đến khám bệnh đông nghịt.

Hôm nay hiếm khi trời ngừng mưa, nắng lên đẹp, Lâm Nương mắt sáng như đuốc nhìn chằm chằm chén trà trước mặt, lá trà trong chén vừa mới pha xong, lá trà còn nổi trên mặt nước, chưa kịp nhả màu vì chưa đủ nóng, nàng hít sâu một hơi, hai ngón tay kết ấn, đẩy ấn vào chén, trà nóng lập tức dâng lên, treo lơ lửng giữa không trung.

Lâm Nương trên mặt vui mừng, nào ngờ giây sau dòng trà không chịu khống chế, chui khỏi quán trà bay sang bên kia, thanh niên mặc áo xám tro nhạy bén né người sang một bên, nước trà nóng tạt ướt thanh kiếm vàng sau lưng.

Ánh mắt bất thiện của thanh niên kia quét tới, Lâm Nương rùng mình, nàng vội quay đầu lại, chỉ thấy A Hằng đầu ngón tay còn vương làn sương đỏ nhạt vừa tan, nàng trợn mắt: “A Hằng! Cô làm gì vậy!”

A Hằng chống cằm lên mép bàn, chán chường, đôi mắt nàng không nhìn thấy sắc màu tươi sáng, bên ngoài quán trà người bóng chồng chất, hôm nay thiếu niên kia mặc áo trắng như tuyết, trước ngực vẫn đè chuỗi bảo châu trong suốt, hắn ngồi sau một chiếc bàn hẹp, một tay bắt mạch, tay kia cầm bút, hắn ít khi ngẩng đầu, cho tới lúc này, hắn mới nghiêng mặt nhìn thấy vỏ kiếm nhỏ nước như mưa sau lưng Tích Ngọc, sau đó, đôi mắt hắn vượt qua đám đông, chạm vào ánh mắt nàng.

A Hằng thấy nơi cổ tay lạnh lẽo lộ ra từ tay áo hắn là một chuỗi ngọc đá như mây hồng phấn, vài sợi tua đỏ tươi buông xuống, nàng sờ hạt ngọc hồng trong tay mình, mỉm cười với hắn. 

Qua một con phố, mấy tầng người, thiếu niên thoáng liếc nhạt, rồi ánh mắt lại rơi xuống tờ giấy, ngòi bút bơi lượn, chữ mực thành hàng, hắn đưa một viên đan dược cho phụ nhân ngồi trước mặt: “Uống với nước ấm, có thể giải trừ độc tích tụ trong người cô nhiều năm.”

“Đa tạ tiên trưởng!”

Người phụ nhân nhận lấy đan dược, vội vàng nói.

Trình Tịnh Trúc đặt bút xuống, đưa phương thuốc đã viết xong cho nàng: “Sau khi uống đan dược ba ngày, lại theo đơn này mà sắc thuốc.”

Trong quán trà, A Hằng thu lại nụ cười, trở về vẻ mặt chán chường, Lâm Nương chọc chọc cánh tay nàng, nói: “A Hằng, Trình công tử họ đang khám bệnh cho các bá tánh, cô đừng quấy rầy.”

“Con người đều sẽ mắc bệnh ư?”

A Hằng chống cằm bằng một tay, hỏi.

“Con người ai cũng phải trải qua từ trẻ con đến trưởng thành, rồi đến già yếu, trong đó, ăn ngủ bệnh tật là điều mà ai cũng phải trải qua, cái gọi là sinh lão bệnh tử, chính là như vậy.”

Lâm Nương nói.

“Vậy các người sống có ý nghĩa gì chứ?” A Hằng nhìn đám người đang xếp hàng chen chúc trước bàn Trình Tịnh Trúc và Tích Ngọc, ánh nắng cuối thu không đủ ấm áp, có người đứng một lát đã không nhịn được rụt cổ lại, “Các người chỉ sống mấy chục năm ngắn ngủi, vậy mà trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó lại phải vội vàng lớn lên, già đi, chết đi, hấp tấp vội vã, chẳng hiểu ra sao.”

Lâm Nương nghe vậy, quay sang nhìn nàng: “Nhưng chẳng phải chính cô cũng ghen tị với cảm giác của con người sao?”

A Hằng khựng lại, đón lấy ánh nhìn của nàng.

“Ta từng đọc một quyển sách, trong sách có câu, ‘Tử phi ngư, an tri ngư chi lạc’*” Lâm Nương nói, thấy A Hằng cau mày, nàng liền vội vàng giải thích, “Ý nghĩa là nói, cô không phải cá, nên cô không biết cá có vui hay không, A Hằng, cô không phải con người, nên cô không biết niềm vui của con người, dù cuộc đời có gấp gáp, con người cũng sống một cách nghiêm túc.”

(*) Tử phi ngư, an tri ngư chi lạc là một bài cổ thi Trung Quốc được hiểu rằng: không phải là cá sao biết cá vui. 

“Ai nói ta không biết?” A Hằng chẳng hiểu cá vui hay không vui là gì, “Cảm quan của con người các cô thật kỳ lạ.”

Lưỡi con người nếm được rất nhiều vị, vì những vị ấy mà họ sáng tạo ra nhiều món ngon, đôi mắt con người nhìn thấy nhiều màu sắc, nên họ có thể mặc những màu sắc đó lên người, cài lên tóc, vẽ lên giấy.

Tai con người có thể phân biệt được nhiều âm thanh, nên họ làm nên âm nhạc đàn sáo, ca múa các kiểu.

“Vậy,”

Lâm Nương nhìn A Hằng, hỏi, “cô có muốn làm người không?”

A Hằng ngẩn ra.

Nàng… có muốn làm người không?

Bên ngoài quán trà, sắc trời dần xám lại, gió lạnh thổi từng cơn, đây là dấu hiệu trời sắp mưa, Tích Ngọc sợ mọi người dầm mưa, nên gọi họ hôm sau đến tiếp, những người chưa được khám tuy có phần thất vọng, nhưng cũng dần tản đi.

Một giọt mưa lạnh bị gió tạt nghiêng rơi xuống tờ giấy trước mặt Trình Tịnh Trúc, làm nhòe một vệt mực, hắn ngẩng đầu lên, chỉ thấy thiếu nữ chán chường vốn gục trên bàn trong quán trà đối diện không biết từ lúc nào đã đứng bên cạnh mình.

Người bệnh cuối cùng trước bàn hồi lâu không lên tiếng, ngòi bút của Trình Tịnh Trúc khựng lại, ánh mắt hắn từ mặt thiếu nữ kia, dời lên người thanh niên trước mặt, hắn lặp lại: “Ngoài tức ngực đau bụng, còn gì nữa không?”

Thanh niên bỗng nhiên rùng mình một cái, vội rút lại ánh nhìn dán chặt trên khuôn mặt thiếu nữ kia, mặt đỏ bừng, lắp bắp nói: “Còn, còn… khô miệng khát nước.”

Trình Tịnh Trúc ghi lại triệu chứng, lại bắt mạch cho hắn, viết đơn thuốc đưa cho hắn.

Thanh niên nâng phương thuốc đứng dậy cẩn thận nói lời cảm ơn, xoay người liền hòa vào mưa.

Trình Tịnh Trúc nghiêng mặt, thấy A Hằng đang ngồi trên bậc đá, hai tay ôm mặt, hắn đặt bút xuống, lên tiếng: “Làm gì vậy?”

“Không làm gì cả.”

A Hằng giọng có chút rầu rĩ, ngoài hiên mưa nhỏ như tơ, nàng nhìn chằm chằm: “Hai con gái họ Tạ kia cũng không chịu ra, suốt ngày không phải đọc sách thì là ngâm thơ, họ không chịu gặp huynh, chắc chắn là sợ bị huynh nhìn ra họ đã nhớ lại cái gì, cứ thế này, thì bao giờ mới lấy được gốc chấp chứ? Huynh lại không cho ta bắt họ về tra hỏi.”

Trình Tịnh Trúc nghe ra sự oán thán trong giọng nàng, hắn sắp xếp lại mấy lọ thuốc trên bàn, bỏ vào một cái túi thuốc nhỏ: “Cho dù cô bắt họ về tra hỏi cũng chẳng được gì, vì người đang chấp mê sẽ không tự nhận ra mình đang chấp mê, cái gọi là trong nhà chưa tỏ, ngoài ngõ đã tường, cô để tâm thì tự nhiên sẽ tìm được chỗ mấu chốt.”

“Ta đâu có tâm, lấy gì mà để tâm?”

A Hằng tỏ rõ vẻ bực bội, nàng nhìn chằm chằm vào ngực Trình Tịnh Trúc một lát, ánh mắt lại dần theo tà áo hắn trượt xuống tờ giấy trước mặt hắn.

Hình như đó là đơn thuốc bỏ đi, nhưng A Hằng không biết chữ, nên nhìn không ra là thứ gì, nàng quay mặt đi, thấy trước bàn của Tích Ngọc còn hai ông lão run rẩy chưa chịu đi, Lâm Nương vì trò đùa một chén trà nóng của A Hằng nên giờ đang chăm chỉ cầm bút ghi chép giúp Tích Ngọc.

Tích Ngọc nhìn một cái, kinh ngạc nói: “Chữ của cô… xấu quá đấy.”

“… Ngài chỉ cần nói là có đọc được không?”

Lâm Nương khô khan đáp.

“… Được.”

Dù xấu thật, nhưng quả thực từng chữ vẫn nhận ra được, Tích Ngọc không thể phản bác.

Mưa bụi bay bay, người qua kẻ lại vội vã, dưới hiên, A Hằng quay đầu lại, nhìn Trình Tịnh Trúc: “Tiểu thần tiên, huynh đừng dọn vội.”

Động tác thu bút mực của Trình Tịnh Trúc khựng lại, ánh mắt hướng sang nàng.

A Hằng mỉm cười với hắn: “Huynh dạy ta viết chữ, được không?”

Khói mưa lất phất, Trình Tịnh Trúc nhìn nàng một lát, không nói gì, nhưng chấm bút vào mực, đưa cho nàng.

A Hằng nhận lấy.

Trình Tịnh Trúc thấy nàng cầm bút như cách vẫn cầm thìa ăn, hắn khum tay làm động tác, nói: “Cầm thế này.”

A Hằng nhìn tay hắn, học theo cách hắn cầm bút, lông mày nhíu lại, rồi lại đổi về cách cầm thìa, nàng nói: “Cầm thế này thoải mái hơn.”

Nàng vẫn luôn không nghe lời như thế.

Trình Tịnh Trúc cũng không nói thêm gì nữa, bao dung với tư thế cầm bút chẳng ra dáng của nàng, hỏi: “Cô muốn viết chữ gì?”

“Hằng.”

A Hằng nhìn hắn đáp.

Nghe vậy, Trình Tịnh Trúc liền rũ mi mắt xuống, ngón tay chấm nước mưa trên bàn, một nét một nét viết lên trang giấy trắng một chữ, dấu nước mờ nhạt không rõ, nhưng nơi đầu ngón tay hắn lướt qua, ánh kim mảnh như tơ, lấp lánh vệt sáng.

A Hằng quay đầu nhìn chữ trên giấy của Lâm Nương, rồi nhìn chữ có ánh kim lấp lánh của Trình Tịnh Trúc, sự đối lập quá rõ rệt cuối cùng cũng khiến nàng hiểu ra chút thú vị của chữ viết loài người.

Chữ của Lâm Nương thật sự xấu.

A Hằng hào hứng đặt bút, thoáng chốc vẽ ra một chữ, nụ cười tươi của nàng vụt biến mất: 

“Xấu quá.”

Trình Tịnh Trúc liếc nhìn, im lặng.

Nhưng thấy A Hằng như trong chốc lát đã mất hết hứng thú, định ném bút, Trình Tịnh Trúc chợt nắm lấy tay nàng, A Hằng khựng lại, ngẩng đầu, nhìn gương mặt nghiêng không tì vết của hắn.

Trình Tịnh Trúc không nhìn nàng, lòng bàn tay ấm áp bao bọc mu bàn tay nàng, trong khoảnh khắc A Hằng ngẩn ngơ, hắn nắm tay nàng di chuyển trên giấy, phát ra âm thanh rất nhẹ, xào xạc hòa lẫn trong tiếng mưa liên miên, A Hằng nhìn hàng mi dày của hắn, bỗng chốc hắn buông tay ra.

A Hằng mới nhận ra, chỉ thấy trên giấy trắng hiện lên một chữ “Hằng” đường nét thanh tú.

“Luyện chữ không phải việc thuận tay là được, nhưng nếu cô chăm chỉ luyện tập, kiên nhẫn hơn, thì nhất định sẽ tiến bộ.” Trình Tịnh Trúc ngẩng mắt lên, nhìn nàng, “Đó gọi là dụng tâm.”

Học chữ là vậy, nắm giữ gốc chấp cũng thế.

A Hằng nghe ra ý ngoài lời của hắn, lại cong mắt, nhìn chằm chằm chữ đẹp trên giấy ấy hồi lâu, đột nhiên, nàng nói: “Trên Vạn Diễm Sơn, ta từng tiến vào ảo cảnh của huynh, nhưng lạ một điều, ảo cảnh của huynh tối đen, ta chẳng thấy gì cả, nhưng lại nghe được vài tiếng.”

Ánh mắt Trình Tịnh Trúc khẽ động.

A Hằng tiếp tục nói: “Ta nghe được một câu chuyện về Hằng Nga trộm tiên đan bay lên mặt trăng, nhưng khi kết thúc, người kể nói, câu chuyện đó là giả, thật ra Hằng Nga không phải một người, mà là một nhóm tiên nữ.”

“Tiểu thần tiên, ảo cảnh là của huynh,” A Hằng nhìn hắn, người kể câu chuyện đó là huynh sao?”

Tiếng mưa rơi, tiếng bước chân vội vã của người qua đường, tiếng nói cười trong quán trà đối diện, hòa thành một mảnh, Trình Tịnh Trúc nghe A Hằng hỏi hắn: “Người nghe huynh kể chuyện, lại là ai?”

Mưa bụi ẩm ướt, sắc trời xám xịt.

Trình Tịnh Trúc lặng lẽ nhìn nàng, yết hầu khẽ động, trong mưa gió hỗn tạp, ngón tay trong tay áo hắn siết chặt, A Hằng không hề hay biết, nàng không nói rõ được vẻ mặt của hắn rốt cuộc là dáng vẻ thế nào, hắn như tức giận, lại như thứ gì khác, nàng không phân biệt nổi, đành quay mặt đi, khẽ nói: “Không nói thì thôi.”

“Tiểu thần tiên, chúng ta thực sự có duyên.”

A Hằng ngẩng mặt nhìn mưa, lại hỏi: “Huynh xem, thật trùng hợp, Hằng trong Hằng Nga mà huynh kể, cũng là tên của ta.”

Nàng lúc trước trôi dạt trên sông Hắc Thủy, nghe một đứa trẻ đọc bài thơ đó, liền nhớ kỹ ngay, trong nhiều chữ như vậy, nàng chỉ thấy chữ “Hằng” đặc biệt.

Trình Tịnh Trúc không nói gì.

A Hằng cầm bút, không cẩn thận chấm nhiều mực, nàng cũng không để tâm, ngòi bút chạm giấy, mực đen như nhỏ giọt, rất nhanh, ba chữ lớn chiếm trọn tờ giấy, từng nét bút rõ ràng hơn chữ “Hằng” lúc nãy, tuy vẫn có vẻ rời rạc nhưng ít ra không xiêu vẹo, còn hơi có chút ngay ngắn.

A Hằng ngẩng cằm, kéo tay áo Trình Tịnh Trúc: “Huynh xem, tên của huynh ta viết có đẹp không?”

“Ta tuy không có trái tim của loài người,”

A Hằng nhìn chiếc túi thơm bên hông hắn, trên đó thêu tên hắn, vì cái tên này mà nàng đã đâm xuyên cả mười ngón tay của thân xác ấy, nàng ghé sát lại, nghiêng đầu hỏi hắn, “nếu đó là dụng tâm, vậy ta đã rất dụng tâm rồi phải không?”

Trình Tịnh Trúc nhìn ba chữ trên giấy, hàng mi khẽ run.

Mưa lạnh rơi trên bàn, làm ướt vệt mực.

Tiếng mưa rơi rối rắm gõ vào màng nhĩ hắn, hắn ngẩng lên chạm vào ánh mắt nàng.

Đôi mắt A Hằng cong cong, đen láy mà sáng ngời: “Tiểu thần tiên, ta học có giỏi không?”

“Cũng tạm.”

Giọng Trình Tịnh Trúc bình thản.

“Vậy huynh có phần thưởng gì cho ta không?” A Hằng nói, mắt nhìn chằm chằm vào môi hắn, nàng đã rất lâu chưa được nếm máu của hắn.

Trình Tịnh Trúc cúi mắt liếc nàng: “Trình độ này, mà cũng mặt dày đòi thưởng?”

“… Không cho thì thôi.”

A Hằng nói, quay mặt, nhìn sang Tích Ngọc.

Bỗng nhiên, một bàn tay nắm lấy sau gáy nàng, A Hằng có cảm giác như con mồi mình dòm ngó bị phản khống chế, nàng bị buộc quay đầu lại, đối diện đôi mắt trong suốt xinh đẹp kia, giọng hắn hơi lạnh, ẩn chứa cảnh cáo: “Tốt nhất cô đừng nhắm vào Tích Ngọc, nếu không, ta sẽ không giúp cô nữa.”

Sắc mặt A Hằng biến đổi.

Hắn rõ ràng từng nói, sẽ luôn giúp nàng.

A Hằng gỡ tay hắn ra, lại nhìn sang bên kia, Tích Ngọc đang bắt mạch cho người khác, hoàn toàn không nhận ra ánh nhìn của nàng.

Chỉ vì tên Tích Ngọc này, hắn lại nói sẽ không giúp nàng nữa sao?

A Hằng tức giận cực kỳ, ném bút lông, quay người đi đến bên Lâm Nương, Lâm Nương ngẩng đầu thì thấy nàng tức tối, vội đứng thẳng, ghé sát bên nàng, khẽ hỏi: “Sao thế?”

A Hằng vừa định nói gì đó, đôi mắt đen láy bỗng chốc trở nên đỏ sẫm, nàng khựng lại.

“A Hằng?”

Lâm Nương nghi hoặc gọi.

A Hằng lấy lại tinh thần, nàng chớp mắt, nói: “Họ ra ngoài rồi.”

Họ?

Lâm Nương lập tức phản ứng, A Hằng nói đến hai vị tiểu thư nhà họ Tạ kia, nàng biết A Hằng để lại hai luồng sương đỏ trên người hai vị tiểu thư kia, nhất cử nhất động của họ đều trong khống chế của A Hằng.

Nhưng hai vị tiểu thư nhà họ Tạ sao lại ra ngoài cùng lúc trong ngày mưa thế này?

Lúc này mưa càng dày, rào rào trút xuống, một cỗ xe ngựa dừng bên phố ven sông phía đông thành, trong xe ngựa, Tạ Đạm Vân tay cầm một tờ giấy Tuyên Thành, trên giấy là bốn bài thơ lấy đề “gió, mưa, tuyết, trời quang”, ngoài xe ngựa, tiếng mưa rơi ào ạt, tỳ nữ đột nhiên gọi bên ngoài: “Tiểu thư, hình như họ ra rồi!”

Tạ Đạm Vân nghe vậy, ngón tay thon trắng khẽ vén rèm, đôi mắt đẹp nâng lên, qua màn mưa mờ mịt, nàng nhìn thấy không ít người trong Giang Thiên Lâu bước ra.

Đám người đó đều mặc kiểu thư sinh, áo gấm hoa lệ, mỉm cười chào nhau, trong đó có một người áo tím dường như được chào đón nhất, họ lần lượt hành lễ với hắn, rồi mới rời đi, còn người áo tím kia lại ra hiệu cho gia nhân che ô không cần theo, tự mình cưỡi ngựa, lao vào màn mưa dày.

Đám gia nhân vội vã chạy theo sau, qua sông, Tạ Đạm Vân dường như còn mơ hồ nghe tiếng cười sang sảng phóng khoáng của người áo tím kia.

Tuy không thấy rõ dung nhan, nhưng cử chỉ ấy quả thật phong lưu tiêu sái, phong thái tuấn nhã.

“Tiểu thư, đó chắc hẳn là người đứng đầu hội thơ năm nay!”

Tỳ nữ vẫn hiếu kỳ nhìn vào màn mưa hắn biến mất: “Không ít người ở hội thơ nói tiểu thư ngài, còn cả… tiểu thư Triều Yến là sợ hội thơ, nên mới không dám đến, nhưng những kẻ tài tử kia thường ngày miệng đầy học vấn, lại bị vị công tử mới đến này đoạt được quán quân với bốn bài thơ về thời tiết, hắn còn viết thơ thanh minh cho ngài và tiểu thư Triều Yến, đủ thấy nhân phẩm hắn, xứng đáng là khách quý bên cạnh Lan đại nhân.”

Tạ Đạm Vân không nói, rũ xuống mi mắt, nhìn trang giấy thứ hai:

“Khói núi xanh thẳm, mây trời biếc nhạt.”

Nàng đột nhiên hỏi: “Hương Đậu, muội có biết hắn họ gì tên gì không?”

Tỳ nữ Hương Đậu lắc đầu: “Nô tỳ đã sai người đi hỏi thăm, nhưng không ai biết hắn tên gì, ngay hôm ở hội thơ, mọi người chỉ biết Lan đại nhân gọi hắn là Đàn lang, à, chữ Đàn trong đàn hương.”

Đàn lang.

Tạ Đạm Vân thu mắt lại một lát, nói với Hương Đậu: “Về thôi.”

Hương Đậu vâng một tiếng, phu xe lập tức kéo dây cương, xe ngựa lăn bánh, Tạ Đạm Vân vừa định buông rèm cửa, ánh mặt lại chợt dừng ở nơi không xa.

Nơi đó hàng liễu rủ xuống, một cỗ xe ngựa dừng đó.

Rèm cửa xe ngựa kia đang được một bàn tay vén lên, mà trong xe ngựa nàng kia lộ nửa khuôn mặt kiều diễm, đôi mắt ấy nhìn thẳng vào nàng.

“Tiểu thư, đó hình như là… tiểu thư Đạm Vân?”

Bên bờ liễu, cạnh xe ngựa, tỳ nữ ngập ngùng cất tiếng.

Tạ Triều Yến ngồi trong xe ngựa, trong tay cuộn hai trang giấy, nàng nhìn chằm chằm cỗ xe kia đang dần xa, nói với tỳ nữ:

“Mau về thôi.”


Khám phá thêm từ VIVIAN THÍCH ĂN DÂU TÂY

Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.

Comments

No comments yet. Why don’t you start the discussion?

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *