Tác giả: Sơn Chi Tử
Cuối thu gió lạnh lùa qua, sương mù mênh mang giăng đầy, Tạ Đạm Vân và Tạ Triều Yến cùng ngồi chung một con ngựa, trên người mỗi người đều khoác một chiếc áo choàng rộng lớn, một tiểu đồng trẻ tuổi dắt dây cương đi trước, đôi mắt hơi xếch, khoé mắt cười híp lại: “Hai vị tiểu thư thứ lỗi, chủ nhân nhà ta xưa nay vốn không sợ lạnh, nên áo choàng cũng chẳng có lót bông hay lông cừu gì cả, vậy nên đành chờ đến khi về phủ, sẽ mời hai vị tiểu thư uống trà gừng, sưởi lò than cho ấm người, trị thương ở chân, nghỉ ngơi tạm chốc, phía trước chẳng còn xa nữa.”
Tạ Đạm Vân và Tạ Triều Yến gần như cùng lúc ngẩng đầu, trong màn sương mù mịt, chàng áo tím sải bước dài, đi cùng mấy sĩ tử, vừa đi vừa nói cười, dáng người cao thẳng, cử chỉ phóng khoáng, lúc lại cười lớn.
“Chủ nhân nhà ngươi biết đạo thuật sao?”
Tạ Đạm Vân cất tiếng, có lẽ vì lúc bỏ chạy bị gió tạt vào cổ họng nên giọng nàng hơi khàn.
Tiểu đồng lắc đầu: “Chủ nhân nhà ta nào biết mấy thứ đó? Chẳng qua là trên người có mang theo bùa hộ thân xin từ cao tăng ở chùa Vĩnh Tế, vừa rồi người ném ra, mới doạ được con yêu quái kia chạy mất.”
Tạ Triều Yến rúc người trong áo choàng, nàng quay đầu nhìn quanh, thấy độ mười mấy gia nhân theo ngựa mà đi, mà những người này đều là hạ nhân trong phủ chàng áo tím kia, bọn họ chỉ lẳng lặng đi đường, mát chẳng dám liếc ngang dọc, chỉ có tiểu đồng áo xám mắt xếch dắt ngựa là luôn cười nói.
Hôm đó, nữ quyến phủ Tạ đi dâng hương ở chùa Vĩnh Tế trên Bích Hao Sơn, theo lý thì phải về khoảng giữa trưa, nhưng Tạ nhị gia lại chỉ đợi được gia nhân chạy về nhà báo tin trước, ông vừa nghe con gái Triều Yến và cháu gái Đạm Vân gặp phải yêu vật sau núi chùa Vĩnh Tế, mất tích chẳng rõ tung tích, ông liền tự mình chạy vội đến nơi chữa bệnh từ thiện của hai vị tiên trưởng điện Dược Vương cung Tử Tiêu Thượng Thanh đều cầu cứu, nào ngờ, người ta lại nói hai vị tiên trưởng đã ra khỏi thành rồi.
Giữa núi hoang rộng lớn, gió lạnh gào thét, trong không trung chợt có luồng sương đỏ rơi xuống, ngưng kết thành một bóng người, A Hằng ngẩng đôi mắt, hai luồng ánh sáng vàng xé mây mà hạ xuống, tức khắc hiện rõ bóng hình Trình Tịnh Trúc và Tích Ngọc.
Lâm Nương đến muộn nhất, hơi nước nhàn nhạt ngưng tụ thành hình, nàng chạy đến bên A Hằng, nhìn quanh hai bên: “Chính là nơi này sao?”
Ánh đỏ trong mắt A Hằng khẽ động, nàng đảo mắt nhìn khắp bốn phía, sương mù mênh mang, cỏ úa liên miên, cảnh tượng tiêu điều hoang dại, khi ấy nàng rõ ràng cảm nhận được mồi lửa xuất hiện tại đây.
Nhưng giờ trong lồng ngực nàng, mồi lửa kia sớm đã lặng im, không hề dao động.
Một lá bùa trắng bất chợt lướt qua bên người nàng, trong nháy mắt đã bốc cháy, hoá thành từng đốm lửa rơi xuống đám cổ khô, rất nhanh ánh lửa nâng lên một mảnh giấy vàng, trên đó còn sót lại vệt chu sa đỏ.
A Hằng ngoảnh lại, đầu ngón tay Trình Tịnh Trúc loé lên ánh sáng vàng.
“Tiểu sư thúc, đó giống như bùa chú Phật môn.”
Tích Ngọc nhìn thấy vệt đỏ như nét chữ Phạn còn sót, hắn lập tức nghĩ đến: “Chẳng lẽ có người cứu được hai vị tiểu thư nhà họ Tạ?”
Tích Ngọc quay sang nhìn A Hằng: “Cô nương A Hằng, cô còn cảm ứng được giờ họ đang ở đâu không?”
A Hằng chắp tay sau lưng, quay mình nhìn về phía sương núi mờ mịt: “Đi theo ta.”
Bốn người đi qua đồng hoang, lại xuyên qua một khu rừng, phía trước bất chợt sáng sủa, không xa có một khu vườn ẩn hiện trong làn sương trắng mênh mang, bức tường cổng vườn cổ xưa, nhưng hình như được tu sửa kỹ lưỡng, không có vẻ xa hoa phô trương, ngược lại còn mang khí chất cổ kính thanh nhã giữa chốn núi rừng.
A Hằng tiến lại gần, thấy trên cổng lớn sơn đen nhánh treo một tấm biển, nàng nghiêng đầu hỏi Lâm Nương bên cạnh: “Trên đó viết gì vậy?”
“Đàn Viên.”
Lâm nương ngẩng mắt nhìn hàng chữ vàng trên biển, đọc ra tiếng.
“Đồng không mông quạnh, sao lại có một khu vườn lớn thế này?” Tích Ngọc khẽ nhíu mày.
Chưa kịp đợi họ gõ cửa, cánh cổng đã mở ra một khe, một người từ trong khe cửa thò đầu ra nhìn đoàn người bọn họ vài lượt, dè dặt hỏi: “Các người từ đâu đến?”
“Chúng ta là khách ở nhờ nhà Tạ thị lang tại thành Bành Châu, hai vị tiểu thư nhà họ Tạ đi dâng hương ở chùa Vĩnh Tế đến nay chưa về, nên chúng ta lần theo đến đây.”
Trình Tịnh Trúc đáp.
Người kia nghe vậy, vội mở toang cổng, lúc này mới để lộ ra dáng vẻ gia nhân, đôi mắt hơi xếch híp lại, tươi cười chắp tay cung kính nói: “Có thể lần đường đến đây, chắc hẳn chư vị là tiên trưởng tu hành, chủ nhân nhà ta vừa sai người thắng xe, chẳng bao lâu sẽ đưa hai vị tiểu thư về phủ, không ngờ các vị lại đến trước, các vị, xin mời vào trong!”
Nói rồi, hắn nghiêng người, cúi người mời họ vào cổng.
A Hằng nắm tay Lâm Nương đi đầu bước qua bậc cửa, nàng rủ mắt xuống vừa khéo bắt gặp gia nhân kia đang lén nhìn trộm, gia nhân như bị hù một cái, vội vã cúi đầu, song bên môi nụ cười vẫn chẳng tắt: “Chủ nhân nhà ta đang cùng vài người bạn uống rượu trong đại sảnh, mời chư vị tiên trưởng cũng đến đại sảnh nghỉ ngơi, hai vị tiểu thư bị thương ở chân, giờ đang được bối thuốc trong sương phòng.”
Lúc ấy đang là cuối thu, vậy mà trong vườn chẳng có chút tiêu điều, hoa nở rực rỡ theo mùa, kéo dài liên miên dưới hành lang, qua hành lang, bước trên con đường đá cuội, đi đến một rừng quế vàng, thỉnh thoảng có gió thổi qua, cánh quế vàng rơi lả tả như mưa, A Hằng vừa đi ra khỏi rừng quế, tóc đã dính không ít cánh hoa nhỏ, dưới rừng có suối, lại có núi giả, hang động uốn khúc chằng chịt, ngàn vạn lỗ hổng, nắng chiều chiếu xuyên qua những lỗ hổng đó, để lại bóng sáng loang lổ trên núi đá.
Lâm Nương theo A Hằng vừa đi vừa nhìn quanh, nàng thấy trong vườn này núi đá nhiều, hang động cũng nhiều, bèn lấy làm lạ: “Sao núi đá ở đây, lại toàn hang hốc thế này?”
Người hầu nghe thấy, liền đáp: “Chư vị cũng thấy rồi đó, những hang động này tuy nhỏ nhưng đủ để một người cúi mình chui qua, chủ nhân rất thích trị vườn, đôi mắt ngài ấy nhìn ra được thú vị trong vườn.”
Trình Tịnh Trúc dừng bước, khẽ chạm tay vào vách đá trong miệng động thấp, ngón tay nhấc lên, dưới nắng hiện ra một sợi lông trắng mảnh.
Người hầu đi lên bậc đá bên cạnh, thấy bọn họ chưa theo kịp, ngoái lại nhìn thấy lông mèo trong tay Trình Tịnh Trúc, bèn cười nói: “À, quanh đây thường có mèo hoang lẻn vào, những hang động này cũng tiện cho chúng trốn, chúng ta thường đặt ít thịt trong đó cho chúng ăn.”
A Hằng cúi xuống nhìn vào, quả nhiên có mấy cái bát vỡ, trên còn dính vụn thịt sống.
“Xem ra khu vườn này cũng có niên đại rồi.”
Trình Tịnh Trúc phủi đi lông mèo, tiếp tục bước lên bậc đá.
Người hầu vừa đi vừa nói: “Đúng vậy, khu vườn này trước khi vốn thuộc về một vị lão học chính, lão học chính ấy cáo lão hồi hương, xây dựng nơi đây chỉ để riêng mình hưởng thụ cảnh thanh u, nhưng sống dần lại thấy quá đỗi hiu quạnh, thành ra ngày một hoang phế, chủ nhân nhà ta không đành lòng nhìn khu vườn tốt đẹp thế này bị bỏ mặc, nên mới mua lại, tu sửa một phen.”
Sắp đến gần đại sảnh, đã nghe thấy tiếng nói cười xuyên qua cánh cửa truyền ra.
Người hầu vội vàng chạy đến cửa, cúi người thưa: “Chủ nhân, có mấy vị tiên trưởng ghé thăm, họ đến để tìm hai vị tiểu thư nhà họ Tạ.”
Chàng áo tím lúc ấy đang cùng mấy vị sĩ tử trong sảnh nói cười nghe vậy, liền buông ngay chén rượu trong tay: “Hoàng An, còn không mau mời khách quý vào.”
Chàng áo tím đứng dậy đi ra cửa, vừa lúc thấy bốn người hai nam hai nữ từ hành lang bước đến.
Mấy sĩ tử khác cũng vội nối gót ra cửa.
Dưới ánh mắt say lờ đờ của mấy vị sĩ tử, họ liền trông thấy một thiếu nữ áo trắng bước đi nhẹ nhàng, búi tóc đen nhánh như mây, dung nhan rực rỡ như đoá hồng mai trong tuyết, ánh sáng xiên qua ngoài hành lang, chiếu lên làn da thiếu nữ như ửng ráng chiều, đôi mắt sáng ngời, mỹ lệ đến cực điểm.
Cơn gió thu luồn qua cổ áo, lạnh buốt sống lưng, mấy sĩ tử nhất thời tỉnh cả men rượu, họ lại thấy bên cạnh thiếu nữ áo trắng kia là một nữ tử áo xanh thanh nhã thoát trần, ngoài hành lang cúc thu rực rỡ, song cũng chẳng thể sánh được với hai người đẹp trên hành lang này.
Vết hằn son phấn trên mặt A Hằng lúc trước đã được Lâm Nương lau sạch, đôi má nàng thoáng nhuộm một tầng đỏ nhàn nhạt, đôi mắt đen láy khẽ nâng, đối diện thẳng với ánh nhìn ngẩn ngơ của các sĩ tử đó.
Vài sĩ tử lập tức đỏ bừng mặt, vội vàng dời tầm mắt.
“Khách quý ghé thăm, Đàn mỗ thất lễ nghênh tiếp từ xa.”
Chàng áo tím khẽ gật đầu, mỉm cười.
Lâm Nương vừa nhìn rõ dung nhan hắn, thì thoáng kinh ngạc, thì ra chủ nhân một khu vườn to lớn thế này, lại còn trẻ đến vậy, đôi mắt hắn hẹp dài, đuôi mắt hơi nhướng, tựa hồ trời sinh đã mang tình ý, dung mạo tuấn mỹ tuyệt luân, cả người phong thái xuất chúng, như gió xuân phả mặt, khí chất thư sinh bừng bừng.
A Hằng nhìn chằm chằm hắn một lát, ánh mắt chợt lướt qua vài người, nhìn về phía bàn tiệc trong sảnh, trên bàn bày đầy cúc thu, điểm xuyến trong đĩa, mà trong đĩa là từng con cua mai vàng óng ánh, trên một lò nhỏ than hồng đang rực lửa, bình rượu sôi lách tách phát ra âm thanh vang giòn.
Chàng áo tím theo ánh mắt nàng nhìn sang, đang định mở miệng nói điều gì, thì nghe một giọng vang lên: “Đột ngột ghé thăm, quả thật thất lễ.”
Chàng áo tím lập tức xoay đầu nhìn, liền thấy một tu sĩ áo trắng từ hành lang bước vào, trên ấn đường hắn cũng như thanh niên tu sĩ áo xám tro đi bên cạnh, đều có một nốt chu sa đỏ, nhưng khi họ lại gần, chàng áo tím nhận ra, nốt chu sa trên trán thiếu niên áo trắng nhỏ hơn một chút.
“Người ta thường nói khách đến là quý, Đàn Viên của ta tuy rộng, nhưng cũng khó tránh vắng lặng, Đàn mỗ vẫn hằng mong ngày ngày có khách ghé thăm, cùng thưởng ngoạn cảnh vườn,” chàng áo tím nở nụ cười rạng rỡ, gọi người hầu, “Hoàng An, mau chuẩn bị thêm một bàn tiệc cua để khoản đãi khách quý.”
Tích Ngọc lập tức nói: “Chúng ta vốn là người tu hành ngoài cõi tục, vẫn giữ giới luật không ăn mặn, xin công tử khỏi phải nhọc lòng.”
Chàng áo tím gật đầu, ánh mắt mỉm cười nhìn sang A Hằng và Lâm Nương: “Hai vị tiểu thư cũng là người tu hành sao?”
“Cái thứ vỏ cứng ấy thì có gì ngon.”
A Hằng lười biếng liếc bàn tiệc, nhàn nhạt nói.
Trong Đông Hải có bao nhiêu binh cua, nàng cũng chẳng buồn cắn lấy một con.
Lâm Nương bắt gặp ánh mắt chàng áo tím kia, vội cười gượng: “Vậy thì không làm phiền công tử.”
Chàng áo tím vẫn giữ nụ cười, giơ tay mời: “Đã vậy, xin mời chư vị ngồi lại một lát, uống chén trà cũng tốt, coi như Đàn mỗ trọn đạo đãi khách.”
Lời lẽ chàng áo tím thành khẩn, thái độ nhiệt tình, khiến người ta khó lòng từ chối, A Hằng thấy Trình Tịnh Trúc đã bước vào, nàng cũng vội đi theo, Tích Ngọc định ngồi xuống cạnh Trình Tịnh Trúc, nhưng bị A Hằng nhanh chân giành chỗ.
Nhìn lại Lâm Nương, nàng thì ngồi xuống bên cạnh A Hằng, khiến Tích Ngọc cau mày, đành ngồi đối diện.
Hoàng An nhanh chóng sai người hầu dọn tiệc, dâng trà nóng..
Trình Tịnh Trúc đưa mắt liếc qua những người hầu vừa bưng trà xong liền lui ra ngoài cửa, đi dọc khu vườn này đến đây, quả thật chẳng thấy một nữ tỳ nào, Trình Tịnh Trúc khẽ chạm ngón tay vào chén trà: “Chúng ta trong núi có phát hiện được một lá bùa tàn khuyết, chẳng hay có phải của công tử không?”
Chàng áo tím gật đầu: “Đúng vậy, lá bùa ấy là ta cầu được từ cao tăng chùa Vĩnh Tế, nếu không phải hôm nay đưa bạn về nhà tình cờ thấy yêu vật truy đuổi hai vị tiểu thư nhà họ Tạ, ta cũng chẳng biết, lá bùa đó lại có tác dụng lớn như thế.”
“Xem như ngẫu nhiên mà thành,” Đàn lang ánh mắt ôn hoà, “ta vốn nghe nói gần đây có yêu vật hoành hành ở các châu huyện quanh vùng, nến mới đến chùa Vĩnh Tế cầu một lá bùa hộ mệnh, để đề phòng bất trắc.”
“Vậy công tử có nhìn rõ hình dạng yêu vật ấy không?”
Tích Ngọc hỏi.
Chàng áo tím cau mày nghĩ ngợi, rồi lắc đầu: “Ta chỉ thấy một đám khí đen, chứ chẳng thấy rõ trong khí đen đó có gì.”
A Hằng lập tức ngẩng mắt: “Lá bùa kia thật sự lợi hại đến vậy sao? Ngươi vừa ném ra, khí đen liền bỏ chạy?”
Nếu khí đen kia thật là mồi lửa, thì sao một lá bùa vớ vẩn của hoà thượng đầu trọc chùa Vĩnh Tế lại có thể ép lui nó? Mồi lửa chẳng phải luôn ký sinh trong thân người sao? Sao có thể xuất hiện một mình?
Thế nhưng A Hằng chắc chắn, nàng đã chân thực cảm nhận được luồng lực đó, nó chợt loé lên rồi biến mất, nàng đuổi theo đến tận hoang dã, rồi đến đây… ánh sáng đỏ sẫm nơi đáy mắt nàng khẽ loé, còn mồi lửa trong lồng ngực lại lặng im bất động.
Mấy vị sĩ tử đều nhìn thấy đôi mắt yêu dị của nàng, tim đập thình thịch, không khỏi sinh nghi có khi nào nàng là yêu là quỷ, tuyệt chẳng phải con người, nhưng chàng áo tím vẫn ngồi ngay ngắn trên ghế cao, nụ cười bất biến: “Đàn mỗ cũng không biết khí đen kia có phải chạy trốn hay không, chỉ là lá bùa hộ mệnh do cao tăng chùa Vĩnh Tế ban cho ít nhiều cũng có chút tác dụng trấn áp.”
Lời này quả thật chẳng sai, Tích Ngọc tiếp lời: “Công tử lúc nguy nan mà vẫn bình tĩnh, lại còn xả thân cứu hai vị tiểu thư nhà họ Tạ, thật khiến người khâm phục.”
“Chư vị không biết, Đàn huynh vốn là như thế, dù chỉ là một văn sĩ, nhưng vẫn mang phong thái hào kiệt phong lưu!”
Một người sĩ tử phe phẩy quạt nói.
Mấy người khác cũng đồng thanh phụ hoạ.
Chàng áo tím bật cười sang sảng: “Các người đừng tâng bốc ta trước mặt khách quý nữa! Ta chẳng qua uống say, men rượu xông lên đầu mới có chút khí khái thẳng thắn, trong lòng nào có chuyện không sợ hãi chứ?”
Trình Tịnh Trúc nâng chén trà, làn khói nóng bốc lên: “Công tử là người Thiên Đô?”
Chàng áo tím gật đầu: “Không sai.”
“Thiên Đô phồn hoa chẳng thể so với Bành Châu, không biết vì sao công tử lại đến Bành Châu định cư?” Trình Tịnh Trúc hỏi nhàn nhạt, dường như chỉ là vì ngồi lâu buồn chán mà buông lời.
“Dù Thiên Đô có phồn hoa đến đâu, ta cũng đã nhìn mãi nhiều năm, sớm thấy chán ngán, nghe Lan đại nhân nói cảnh sắc Bành Châu non xanh nước biếc, là nhất tuyệt của nước Ung Ninh, nên ta mới dời đến đây tạm sống,” chàng áo tím nhấp một ngụm trà, cười nói: “Ta vốn không có chí lớn, chỉ muốn tìm một nơi thanh tịnh độc hưởng một vườn xuân sắc, cùng bạn bè ngâm thơ uống rượu, tiêu dao khoái lạc.”
Lan đại nhân vốn là cựu tể phụ của nước Ung Ninh, Trình Tịnh Trúc bọn họ ở trong thành đã sớm nghe danh, hội thơ mà con gái nhà họ Tạ không đi được, chính là do Lan đại nhân đích thân chủ trì.
Chàng áo tím này tuy không nói rõ thân phận của mình, nhưng hắn là người Thiên Đô, lại là thượng khách trong tiệc của Lan đại nhân, đủ thấy gia thế chẳng hề tầm thường, bằng không, sao lại có được sản nghiệp lớn đến thế.
Lúc này, trên hành lang vang lên tiếng bước chân chậm chạp, càng lúc càng gần.
A Hằng ngẩng đầu nhìn, chỉ thấy Tạ Đạm Vân cùng Tạ Triều Yến xuất hiện trước cửa đại sảnh, trong vườn không có nữ tỳ nào, mà đám người hầu nam thì vì kiêng kỵ nên không thể dìu đỡ, thế là hai người phải vịn nhau mà đi đến.
Đứng lại ngoài cửa, họ rất nhanh đã buông tay nhau ra, rõ ràng chẳng phải tình nguyện mà phải nương tựa lẫn nhau.
“Đa tạ công tử đã cứu mạng.”
Tạ Đạm Vân và Tạ Triều Yến gần như đồng thời khom người, đồng thanh nói.
Chàng áo tím đứng dậy: “Hai vị tiểu thư không cần như thế, cũng là do gia phong nhà Đàn mỗ, bao năm nay quen sống không có nữ tỳ, nên có phần thất lễ.”
“Không… công tử nói quá rồi.”
Tạ Đạm Vân ngẩng mắt, nhìn thoáng qua chàng áo tím, thấy hắn ôn hoà nhã nhặn, thần thái sáng sủa, nàng cúi đầu nói: “Là tỷ muội chúng ta quấy rầy rồi.”
“Đúng vậy, vốn là chúng ta làm phiền mới phải.”
Giọng nói của Tạ Triều Yến vang lên, Tạ Đạm Vân nghiêng mặt nhìn sang nàng, chỉ thấy gò má vốn trắng bệch của nàng vậy mà ửng hồng đôi chút, Tạ Đạm Vân liền rũ mắt xuống.
“Chỉ là việc nhỏ, có gì đáng kể? Hai vị tiểu thư, nay tiên trưởng tạm trú trong phủ hai người đã tìm đến, các vị cứ theo họ đi thôi.” Chàng áo tím khẽ gật đầu nói.
Tạ Đạm Vân và Tạ Triều Yến đều sững người, theo ánh mắt hắn nhìn quanh, lúc này mới ý thức được bốn người lạ trong sảnh chính là những khách lạ đang tạm trú trong phủ Tạ.
Mắt thường rõ ràng thấy được, sắc mặt Tạ Đạm Vân và Tạ Triều Yến đều trở nên căng thẳng, ánh mắt A Hằng quét qua giữa hai người một lượt, nhưng cả hai lại đồng loạt tránh né ánh mắt của nàng.
“Không quấy rầy nữa.”
Trình Tịnh Trúc đặt chén trà xuống, đứng dậy.
Chàng áo tím liếc nhìn chén trà trên bàn, từ lúc người hầu mang lên thế nào thì giờ vẫn y nguyên, chẳng hề động qua.
Tích Ngọc cũng đứng lên cáo từ.
Trình Tịnh Trúc đi đến bên cửa, bỗng nhiên dừng bước, Tích Ngọc khó hiểu, cũng dừng lại theo, chỉ thấy tiểu sư thúc quay đầu lại, nhìn về thiếu nữ áo trắng vẫn ngồi trên ghế: “Cô nương A Hằng, không đi sao?”
A Hằng vẫn còn chút chưa từ bỏ ý định, mồi lửa không ở trên người con gái họ Tạ, vậy sao nó lại đột nhiên biến mất không còn chút khí tức nào? Nhưng nghe tiếng gọi ấy, nàng quay đầu lại, bắt gặp đôi mắt trong trẻo lạnh lùng của thiếu niên kia, nàng mỉm cười, đứng phắt dậy chạy tới: “Đi chứ.”
Khoảnh khắc nàng chạy qua, một lá bùa trắng sượt qua bên mình, thoáng chốc bùng cháy, hoá thành ánh lửa rơi xuống, A Hằng quay đầu, thấy chàng áo tím đang dõi mắt nhìn vào ánh lửa dần tắt trong chén trà của mình, một lát sau, hắn ngẩng mặt, ánh nắng khắc hoạ trên vai rộng lớn của thiếu niên áo trắng, thiếu niên tóc bạc như tuyết, sắc mặt lạnh nhạt: “Công tử cùng yêu vật giao đấu, e là có tà khí nhập thể, uống nước bùa này, có thể giữ thần trí tỉnh táo.”
Chàng áo tím nghe vậy, nâng chén trà, khẽ mỉm cười: “Vậy, Đàn mỗ xin đa tạ tiên trưởng.”
Nói xong, hắn ngửa cổ uống cạn, hào khí ngút trời.
Trình Tịnh Trúc khẽ gật đầu, không dừng lại nữa, sải bước ra khỏi đại sảnh, Lâm Nương liền đi đỡ hai vị tiểu thư nhà họ Tạ, nàng vốn chẳng trông cậy gì vào A Hằng, ngẩng lên nhìn, quả nhiên, A Hằng bước chân nhẹ nhàng theo sát sau Trình Tịnh Trúc.
Chàng áo tím đích thân tiễn bọn họ ra ngoài vườn, Hoàng An đã chuẩn bị xa ngựa sẵn, chàng áo tím đứng bên cửa, liếc qua hai vị Tạ tiểu thư, rồi chắp tay với Trình Tịnh Trúc và Tích Ngọc: “Đàn mỗ biết hai vị tiên trưởng đều có thần thông, nhưng hai vị tiểu thư vừa bị kinh sợ, lại thêm thương ở chân, đi xe ngựa vẫn ổn thoả hơn.”
Tạ Đạm Vân và Tạ Triều Yến vội vàng khom người: “Cảm ơn.”
Lâm Nương dìu hai vị tiểu thư chậm rãi đi về phía xe ngựa, A Hằng thấy Trình Tịnh Trúc đã lên ngựa, nàng đang định chạy tới, thì lại nghe chàng áo tím bên cửa bỗng gọi: “Tiểu thư A Hằng.”
A Hằng sững lại, quay đầu.
Chàng áo tím nghiêng người tựa vào cửa, gió lạnh thổi bay vạt áo hắn, ngọc quan trên búi tóc hắn lay động, đôi mắt hắn vẫn ánh lên ý cười: “Ta nghe vị tiên trưởng kia gọi cô như thế, nếu có đường đột, mong thứ lỗi.”
“Ồ, ngươi muốn nói gì?”
A Hằng hơi ngẩng cằm.
“Đàn mỗ hiếu khách, nếu chư vị lại đến, tất sẽ trải chiếu nghênh đón,” chàng áo tím nói rồi đứng thẳng dậy, “lần sau, sẽ không chuẩn bị tiệc cua mà tiểu thư A Hằng không thích nữa.”
“Được thôi.”
A Hằng mỉm cười, quay người xuống bậc thềm, không ngờ lại bắt gặp ánh mắt thiếu niên áo trắng trên lưng ngựa dưới ánh mặt trời, chỉ là cái liếc nhạt nhòa, rồi hắn nhanh chóng dời đi.
A Hằng chạy đến: “Tiểu thần tiên, ta cũng muốn cưỡi ngựa!”
Trình Tịnh Trúc rũ mắt, nắng rọi lên gò má nàng, lớp phấn mỏng dường như chỉ là sắc máu ẩn dưới làn da, đôi mắt nàng sáng long lanh, chăm chú nhìn hắn không chớp mắt.
“Tích Ngọc.”
Trình Tịnh Trúc cất giọng.
Tích Ngọc vừa lên ngựa, nghe thấy tiếng gọi này, hắn hơi hậm hực nhảy xuống lưng ngựa, định vào trong xe ngựa, A Hằng quay đầu liếc nhìn, cau mày, nói: “Ta một mình thì không biết cưỡi đâu.”
Tích Ngọc lập tức quay mặt, cảnh giác nói: “Ta tuyệt đối sẽ không cùng cô ngồi chung ngựa đâu!”
“Ai thèm cùng ngươi chứ?”
A Hằng hất mặt đi, không buồn nhìn hắn.
Không phải cùng hắn, vậy thì… Tích Ngọc nhìn về phía tiểu sư thúc trên lưng ngựa, nét mặt thoáng trở nên cổ quái.
Trình Tịnh Trúc liếc A Hằng, lời ít ý nhiều: “Không được.”
Tích Ngọc thầm thở phào nhẹ nhõm, quả nhiên, đạo tâm của tiểu sư thúc vững chắc hơn cả ngọn núi ở điện Dược Vương cung Tử Tiêu Thượng Thanh.
A Hằng và Trình Tịnh Trúc nhìn nhau, hắn vẫn mày thanh mắt lạnh, chẳng hề động lòng, A Hằng đành tức tối chui vào trong xe ngựa.
Nàng vén màn lên, Tạ Đạm Vân và Tạ Triều Yến giật mình sợ hãi, A Hằng ngồi xuống bên cạnh Lâm Nương, ngẩng mắt nhìn hai người kia, từ đầu đến cuối, hai nữ tử loài người này đều chẳng nói lời nào, cũng chẳng nhìn nàng.
“A Hằng, đừng giận nữa.”
Mọi việc vừa rồi ngoài kia, Lâm Nương đều thấy và nghe rõ hết, nàng thấy A Hằng mặt mày u ám, liền ghé sát tai an ủi: “Chẳng phải chỉ là cưỡi ngựa thôi sao? Nếu cô thật sự muốn thử, ta vào Tích Ngọc đưa cô, chúng ta đi…”
“Đi với cô thì có ý gì?”
A Hằng lạnh mặt.
“… Được rồi.”
Lâm Nương nghẹn lời.
Nghe vậy, Tạ Đạm Vân và Tạ Triều Yến không kìm được mà khẽ ngẩng đầu lên, nhưng vừa lúc ấy lại bắt gặp đôi mắt thiếu nữ áo trắng, trong đồng tử đen nhánh lóe lên ánh đỏ âm u, khiến cả hai sợ hãi kinh hoàng.
Lâm Nương thấy vậy, vội nói: “Các cô đừng sợ, A Hằng sẽ không…”
“Ta sẽ…”
A Hằng thong thả ngắt lời nàng.
Xe ngựa lộc cộc lăn bánh, nhưng Tạ Đạm Vân và Tạ Triều Yến chẳng nghe thấy tiếng gió bên ngoài rèm, rèm xe thậm chí chẳng lay động, cả khoang xe ngập trong làn sương đỏ nhàn nhạt, quỷ dị như tách biệt hẳn với thế giới bên ngoài.
Sắc mặt Tạ Đạm Vân lộ vẻ hoảng loạn: “Cô…”
Đôi mắt A Hằng sau khi cởi bỏ lớp ngụy trang trở nên đỏ sậm, nàng nhìn qua nhìn lại giữa Tạ Đạm Vân và Tạ Triều Yến, như thể đang vô cùng khó hiểu: “Thật không biết các cô đang giả vờ điều gì nữa.”
Tạ Triều Yến run rẩy co người lại, gần như không dám nhìn thẳng vào ánh mắt của A Hằng.
Tạ Đạm Vân cố tỏ ra bình tĩnh hỏi: “Cô nương có ý gì vậy?”
Một làn sương đỏ lững lờ dâng lên, chợt tách ra thành hai dải, quấn chặt lấy cổ Tạ Đạm Vân và Tạ Triều Yến, hai người kinh hãi trợn tròn mắt, muốn giãy giụa nhưng không thể động đậy, chỉ có thể trơ mắt nhìn làn sương đỏ như tơ, siết quanh cổ mình ngày càng chặt.
“A Hằng!”
Lâm Nương thất kinh, vội nắm lấy tay A Hằng.
A Hằng hất nàng ra, hai tay chống lên bàn, cúi người áp sát hai người kia, đôi mắt đỏ thẫm vừa lạnh lẽo vừa yêu dị:
“Các cô rõ ràng đã nhớ lại những thứ không nên nhớ, phải không?”
Khám phá thêm từ VIVIAN THÍCH ĂN DÂU TÂY
Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.
