Tác giả: Sơn Chi Tử
Bên ngoài rào tre sương trắng lượn lờ, càng làm nổi bật rừng trúc từng phía xa như được vẽ bằng mực tàu, tu sĩ áo trắng chăm chú nhìn nữ tử quần áo rực rỡ trước mặt, vẻ mặt hắn bình tĩnh như nước, thế nhưng càng nhìn vào đôi mắt ấy A Hằng càng cảm thấy nước tĩnh mà sâu, cứ như thể quần áo nàng đang mặc, thậm chí cả thân xác dưới lớp quần áo ấy đều chẳng là gì trong mắt hắn, nàng có ảo giác mình đã bị hắn nhìn thấu hoàn toàn.
Khóe môi A Hằng khẽ trễ xuống, bàn tay sau lưng khẽ mân mê viên châu tròn nhẵn, do dự một chút, đang định đưa tay ra trước thì bất chợt nghe hắn hỏi: “Hôm qua cô bị thương à?”
Bàn tay đang định đưa viên châu ra của A Hằng khựng lại, thấy thiếu niên tu sĩ trước mặt này cụp mắt, bình thản nhìn về một chỗ nào đó, nàng cúi đầu nhìn mu bàn tay trái của mình thấy vết xước vẫn còn, chính là vết thương hôm qua khi giao đấu với con bùn yêu trong động Sơn Thần kia, nàng lại lần nữa siết chặt viên châu trong lòng bàn tay phải: “Phải.”
Là yêu tà trời sinh, nàng vốn không có hình thể, cũng chẳng có ngũ quan, chỉ sau khi khoác lên lớp da người này, A Hằng mới biết thế nào là nỗi đau xác thịt, nhưng điều khiến nàng bực mình nhất, vẫn là lớp da loài người này giống hệt quần áo loài người, chỉ cần va chạm một chút là bị thương, rách nát, chảy máu, thậm chí để lại sẹo.
Nếu như máu trong thân xác này chảy cạn, da thịt trở nên khô héo xẹp lép, thì nàng vừa không dễ di chuyển lại chẳng cởi bỏ ra được, thật là phiền phức!
A Hằng nghĩ như vậy, không khỏi cau mày khó chịu.
Bỗng nhiên một bàn tay đưa ra trước mặt, lòng bàn tay tĩnh lặng nằm một chiếc bình sứ, A Hằng nhìn bình sứ ấy, rồi ngẩng đầu nhìn lên, dừng trên gương mặt thiếu niên tu sĩ, hắn nói: “Thuốc này dùng ngoài da.”
Dừng lại một chút, giọng hắn tuy lạnh nhạt nhưng mang theo một ý tứ lờ mờ: “Đừng uống nhầm.”
“Nếu ta uống thì sao?”
A Hằng nhận lấy bình sứ từ tay hắn.
“Nếu thực sự tò mò, cô thử thì biết.”
Trình Tịnh Trúc buông lời như thể không hề để tâm, nói xong liền bước vòng qua A Hằng ra ngoài hàng rào, A Hằng xoay người lại, hắn bước đi không nhanh không chậm, nhưng bóng lưng trắng như tuyết, thon dài ấy rất nhanh đã tan vào sương mù núi, trở nên mờ mịt khó thấy.
A Hằng quay lại, vừa ngẩng đầu thì thấy Lâm thị đang đứng ở cửa phòng, bà sắc mặt có chút tái nhợt, ánh mắt chỉ cần chạm phải ánh mắt của A Hằng, cơ mặt liền khẽ run nhẹ, nói: “Lâm Nương, con đói chưa? Mẹ đi nấu cơm đây…”
“Được ạ.”
A Hằng mỉm cười nhìn bà, Lâm thị lập tức quay người đi về phía nhà bếp.
A Hằng tay trái cầm bình sứ, tay phải cầm bảo châu trở về phòng, nàng ngồi trước bàn trang điểm, liếc nhìn gương đồng, mấy ngày trước đều là Lâm thị tự mình chải tóc cho nàng, hôm nay có vẻ Lâm thị không rảnh, nàng đành để tóc xõa.
Đặt bảo châu vào trong hộp trang điểm, A Hằng mở bình sứ ra, lập tức ngửi thấy một mùi hương dễ chịu, nhưng vì mới có ngũ cảm, nàng không diễn tả được đó là mùi gì, nàng đưa sát bình đến mũi ngửi thử, rồi định đưa lên miệng nếm thử một chút.
“Trình tiên trưởng đã nói không được ăn mà!”
Giọng Lâm Nương đột ngột vang lên, nhưng đúng lúc đó, A Hằng đã nhấp một ngụm chất lỏng màu xanh nhạt trong bình, Lâm Nương ôm đầu thở dài: “Đừng cái gì cũng cho vào miệng được không…”
A Hằng lập tức nhăn mặt: “Thứ này mùi gì vậy?”
Lâm Nương thấy nàng quá tò mò, lại nghĩ mình đã là quỷ rồi, ăn gì cũng không chết, bèn nhỏ một giọt từ trong bình ra nếm thử, kết quả gương mặt giống hệt A Hằng của nàng cũng méo xệch: “Đắng, đắng chết mất!”
Thậm chí còn đắng hơn bất kỳ loại thuốc nào mà nàng từng uống khi còn sống, đắng đến mức một con quỷ nước như nàng cũng phải co giật cả quai hàm.
“Ta không thích vị đắng.” A Hằng nói.
“… Trên đời này ai mà thích ăn đắng chứ?”
Lâm Nương vội dùng tay áo múc nước súc miệng bớt vị đắng, thấy A Hằng đẩy bình sức ra xa, lại lôi bảo châu trong hộp trang điểm ra nghịch trong tay, Lâm Nương bèn nói: “Trình tiên trưởng đó là người tốt, hắn giúp cha ta, còn cả người trong thôn chữa bệnh xương xanh, sao cô lại lừa hắn chứ?”
“Lừa?”
A Hằng một tay chống cằm, ngước mắt nhìn bóng Lâm Nương mờ mờ trong gương: “Tại sao ta lại không thể lừa hắn?”
“Viên châu này với cô có tác dụng gì sao?” Lâm Nương hỏi nàng.
A Hằng lắc lắc viên bảo châu trong tay, ánh sáng trong suốt bên trong lấp lánh lay động, liền híp mắt lại: “Rất đẹp, không phải sao?”
Nàng là yêu tà, nhưng lại không phải loại yêu quái như bùn yêu tu luyện thành, nhờ linh bảo mà đắc đạo, nói cho chính xác, nàng không giống bất kỳ loại yêu quái nào tu thành từ chim bay cá nhảy, hay từ hoa cỏ cây cối, nàng vốn sinh ra ngoài ngũ hành, không hình không tướng, viên bảo châu này với nàng chẳng có chút tác dụng gì.
“… A Hằng, chẳng phải cô đã để ý vị Trình tiên trưởng đó rồi sao? Nếu đã vậy, cô nên đối xưe chân thành thẳng thắn với người ta, nếu cô không thành thật, làm sao đối lấy được sự thật tâm từ hắn chứ?” Lâm Nương chỉ cảm thấy A Hằng có lúc như một đứa trẻ mới sinh chưa lâu, vừa bắt đầu cảm nhận thế giới này, hành động thì chẳng theo quy tắc nào cả.
“Thật tâm?” A Hằng nhìn nàng.
“Giữa người với người, phải thành thật mới có được thật tâm, nếu ngay từ đầu cô đã lừa gạt, thì Trình tiên trưởng ấy chắc chắn sẽ có ấn tượng xấu về cô,” Lâm Nương khuyên nhủ chân thành, hy vọng nàng ta học được một chút quy tắc làm người, “nếu cứ thế này tiếp tục, muốn có được trái tim hắn chẳng khác nào nằm mơ giữa ban ngày!”
A Hằng nghe mà chỉ hiểu lơ mơ, nàng nhớ đến bộ quần áo trắng tinh nghiêm chỉnh của vị tu sĩ kia, nàng không thể xé toang ngực hắn ra, thậm chí đến vạt áo cũng không thể làm rách, không thể vò nhàu.
Không thể dùng cách thô bạo nhất để giành lấy trái tim mà nàng khao khát, trong lòng A Hằng có chút bực bội, nhưng nàng vẫn hỏi Lâm Nương: “Vậy cô nói, ta nên làm gì?”
“Đầu tiên, cô phải đưa viên bảo châu này cho hắn.”
Lâm Nương chỉ vào thứ trong tay nàng, sau đó ngẩng đầu, xuyên qua tấm gương đồng nhìn về phía chiếc giỏ kim chỉ đặt bên giường tre phía sau, trong đó còn đặt một chiếc túi gấm nàng chưa thêu xong lúc còn sống, trong lòng Lâm Nương lại có chút chua xót, nhưng rồi lại đè nén xuống, nói tiếp với A Hằng: “Thêu thêm một chiếc túi gấm nữa đi, thứ nhất, coi như là xin lỗi vì vừa nãy cô đã không kịp thời trả lại viên bảo châu cho hắn, thứ hai… con gái không dễ dàng tặng túi gấm cho nam tử, đây cũng là một kiểu thể hiện tấm lòng đặc biệt.”
A Hằng theo ánh mắt nàng, quay đầu lại nhìn về phía giỏ kim chỉ kia, thấy những sợi chỉ màu sắc trong giỏ thì mắt A Hằng liền sáng lên, nàng giống hệt như đứa trẻ, luôn tràn đầy tò mò với mọi thứ chưa biết, nên nàng lập tức đồng ý rất dứt khoát.
Nhưng việc thêu thùa đâu thể xong trong một sớm một chiều, mới đầu A Hằng còn hào hứng, nhưng bị Lâm Nương – thầy dạy thêu sống chê tới chê lui mấy lần, lại bị kim đâm vào ngón tay không biết bao nhiêu cái, cuối cùng A Hằng bực mình ném kim chỉ: “Dùng cái của cô đi.”
Lâm Nhưng bay nhanh ôm chặt lấy chiếc túi gấm mình còn chưa kịp hoàn thành khi còn sống vào lòng: “Không được! Ta đã nói là phải thành thật, nếu cô muốn tặng tâm ý của mình, mà lại dùng đồ của ta để đưa cho hắn, thì vẫn là đang lừa gạt hắn thôi.”
A Hằng không thích nàng lải nhải, cũng may Lâm thị bước vào đưa cơm, Lâm Nương lập tức bày ra bộ mặt đau khổ thê lương, nhìn Lâm thị mà nước mắt ròng ròng, cũng không nói gì nữa.
A Hằng cũng nhìn Lâm thị.
Nàng nhìn tay Lâm thị đã đóng vảy, lại nhìn đến ngực Lâm thị, nàng vẫn nhạy cảm mà ngửi ra được chút mùi máu tanh trên tay Lâm thị, một thứ mùi vẩn đục.
Máu của Lâm thị, giống như món bánh bao với dưa muối đặt trước mặt A Hằng, có thể ăn, nhưng khiến người nuốt không trôi.
“Buổi tối nấu gà hầm cho con ăn nhé.”
Lâm thị dịu dàng lên tiếng, không biết bà đang nghĩ gì.
Gà?
A Hằng lập tức nhớ đến đám gà con đang cong đít chạy nhảy trong sân, mấy ngày trước Lâm thị cũng từng nấu gà hầm cho nàng ăn, món đó đúng là ăn rất ngon, A Hằng mỉm cười với Lâm thị một cái.
Rồi không nhìn chằm chằm vào ngực bà nữa.
Tối đó A Hằng quả nhiên được ăn món gà hầm với nấm núi, hương vị thơm ngon tuyệt đỉnh, Lâm Nương lại khuyên nàng đừng bỏ cuộc giữa chừng, nhưng còn chưa kịp khuyên xong, thì Lâm Nương không duy trì được hình người nữa, đành quay trở về trong hồ lô, tan hòa làn nước.
Đêm nay trăng sáng, ánh trắng bạc phủ kín cả cửa sổ, A Hằng ngồi bên bậu cửa, đôi chân trần đung đưa nhẹ nhàng, nàng nhìn đống kim chỉ bừa bộn trên bàn, trong lòng nghĩ, nàng đâu nhất thiết phải có được trái tim của tiểu thần tiên kia.
Trái tim của ai cũng được mà.
Ánh trăng sáng như tơ lụa, A Hằng lặng lẽ ra khỏi cửa, men theo đường núi mà đi, không làm kinh động chim thú côn trùng trong rừng, ánh trăng vỡ vụn rọi xuống con đường trước mặt, ở cuối con đường có một người đang đi tới, lưng còng, miệng lẩm bẩm: “Đêm khuya đi bắt cá vẫn là tốt nhất! Nhiều cá thế này, về chiên một con nhỏ làm đồ nhắm đêm trước… hay là làm thêm bình rượu nhỉ? Làm thêm bình đi, cũng thèm cái vị đó rồi…”
Lão Ngư Đầu đã quen với việc vừa đi đường đêm vừa lẩm bẩm một mình, một tay xách đèn lồng, tay kia xách thùng gỗ, trên vai còn vác lưới đánh cá, lảo đảo bước đi về phía trước, lòng đang vui vẻ thì bỗng ngẩng đầu, bước chân đột nhiên khựng lại.
Ánh đèn lồng trong tay không chiếu rõ con đường tối đen, phía trước có làn sương mỏng lượn lờ, lão Ngư Đầu nhìn kỹ thì thấy một bóng người mảnh khảnh trong làn sương mờ.
Lão Ngư Đầu run rẩy môi: “…Ai, ai đấy?”
Nhưng không ai trả lời, ông chỉ thấy bóng người kia bước ra từ màn sương, càng lúc càng gần, trong ánh sáng lờ mờ của đèn, bóng người ấy dần lộ rõ khuôn mặt, lão Ngư Đầu tròn mắt: “Lâm Nương?”
Nữ tử trẻ tuổi ấy không đáp, chỉ mỉm cười nhìn ông.
Tim lão Ngư Đầu đập thình thịch, lập tức ném bỏ thùng gỗ, cuống cuồng lục lọi khắp người cũng không tìm được một lá bùa vàng nào, mồ hôi lạnh vã đầy trán, hàng xóm trong thôn thì không tin chuyện Lâm Nương bị móc tim, nhưng lão Ngư Đầu thì luôn nhớ rõ những gì mình thấy đêm đó, dù không nhìn thấy rõ, cũng không dám chắc, nhưng mỗi lần ông đối mặt với Lâm Nương hiện tại, luôn bất giác thấy sợ hãi.
Lão Ngư Đầu thấy nàng đi xuyên màn sương tới, càng lúc càng gần, không nhịn được mà hét lớn một tiếng: “Cô… cô đứng yên đó!”
Nhưng nữ tử dường như không nghe thấy, vẫn cứ bước từng bước tới gần.
Ánh trăng càng làm khuôn mặt nàng thêm tái nhợt, mái tóc dài đen nhánh xõa xuống, bị gió núi thổi tung, cũng không biết có phải lão Ngư Đầu gặp ảo giác hay không, ông luôn cảm thấy đôi mắt nàng ta đỏ thẫm và tối đen, ông sợ đến mức lùi lại mấy bước, rồi dứt khoát quay người bỏ chạy: “A a a cứu mạng! Yêu quái a!”
Chạy chưa được mấy bước, lưới cá trên vai trượt xuống, lão Ngư Đầu đột ngột bị vướng ngã, sau gáy va mạnh vào đá, trắng dã cả mắt rồi ngất xỉu.
Thùng gỗ đổ, cá bên trong đều rơi hết ra đất, giãy giụa trong bụi đất.
A Hằng bước vòng qua chiếc đèn lồng đang cháy, ánh lửa lướt qua vạt áo nàng, nàng dừng lại trước mặt lão Ngư Đầu, thấy hai chân ông ta bị lưới cá quấn chặt, nằm thẳng cẳng dưới đất, nàng khẽ ngửi, quả nhiên ngửi thấy mùi máu trên người ông ta.
Chỉ là máu ấy lẫn với mùi cá tanh, cực kỳ khó chịu.
A Hằng cau mày, nhìn thấy trên tay lão Ngư Đầu có vài vết xước, chắc là lúc gỡ lưới mà bị thương, vết thương không sâu, trên lòng bàn tay có vài vết trầy đóng vảy màu đỏ.
Lão Ngư Đầu dù đã ngất, nhưng tim trong lồng ngực vẫn đập loạn nhịp, đầy kinh hãi.
Nàng đâu nhất thiết phải lấy trái tim của tiểu thần tiên kia.
Người này đang nằm sẵn đây, chẳng phải cũng được sao?
Nàng có thể dễ dàng xé toạc lồng ngực của người này, moi ra một quả tim tươi mới, đỏ hồng, nhân lúc nó còn đang đập, nhét nó vào lồng ngực rỗng tếch của thân xác này, để duy trì vẻ ngoài đầy đặn của thân máu thịt này.
A Hằng sắc mặt lạnh nhạt, cúi người xuống, một bàn tay vươn về phía ngực lão Ngư Đầu, tấm áo trước ngực ông ta ngay lập tức bị sương mù đỏ sẫm thiêu cháy một mảng, da thịt con người, máu thịt con người còn dễ tổn thương hơn vải vóc.
Chỉ cần nàng nhúc nhích ngón tay, chỉ cần nàng bóp một cái…
Con đường núi yên tĩnh, không một tiếng người, giọt sương sớm vừa đọng trên lá run rẩy rơi xuống, bàn tay A Hằng sắp chạm vào ngực lão Ngư Đầu bỗng khựng lại, nàng đột nhiên nghiêng mặt đi, sắc mặt có phần miễn cưỡng.
Không được.
Người này dường như đã bị mùi tanh cá ngấm vào tận xương, máu ông ta vốn đã khó ngửi, giờ lẫn với mùi tanh cá thì càng kinh khủng.
Chẳng lẽ cả tim ông ta cũng thối như vậy?
Thối rữa như mùi cá ươn?
Lâm Nương chìm nổi trong nước rất lâu mới ngưng tụ lại thân hình, liền bị sương mù đỏ sẫm kéo ra khỏi hồ lô, nàng còn chưa hiểu chuyện gì, lại liếc mắt trông thấy trên bàn có vật gì trông như mảnh giẻ vá lại thành hình, thêu vài thứ nguệch ngoạc méo mó bên trên, Lâm Nương thấy mắt mình như bị xúc phạm, nhưng cũng vô cùng kinh ngạc, nàng vội quay sang nhìn A Hằng, thấy nàng đang ngồi bên cửa sổ, gương mặt đầy khó chịu.
“Cô thực sự làm rồi à?’
Lâm Nương cầm lấy chiếc túi gấm, các mảnh vải sặc sỡ được khâu bằng những đường chỉ vụng về, trông chẳng khác gì miếng vá áo rách của kẻ ăn mày đầu đường, xấu đến mức muôn màu hỗn loạn, nhưng Lâm Nương vẫn bay tới trước mặt nàng, nói: “Lần đầu cô may túi gấm mà như vậy là ổn rồi…”
Câu này Lâm Nương nói mà lương tâm đau nhói, nhưng A Hằng không nhận ra, nàng lấy lại túi gấm từ tay Lâm Nương, nói: “Vậy ta mang nó đi tìm hắn.”
“Ê khoan đã!”
Lâm Nương vội cản nàng lại: “Hay là, hay là cô cứ… luyện thêm chút tay nghề đi.”
Thứ này vừa xấu vừa chói, có thể nói là xưa nay chưa từng có, Lâm Nương không dám tưởng tượng sắc mặt Trình tiên trưởng sẽ ra sao nếu nhìn thấy thứ này.
“Không được, chính là cái này.”
A Hằng mới không cần luyện thêm tay nghề cái gì cả, nàng ghét những việc thủ công của loài người, nhìn bàn tay sưng đỏ vì bị kim đâm của mình, vung tay thu Lâm Nương lại, rồi lập tức ra khỏi nhà.
Nhà thôn trưởng là ngôi nhà lớn nhất cả thôn Hắc Thủy, nhiều dãy sân trong, lạnh lẽo vắng vẻ, lúc này trời còn chưa sáng hẳn, lão thôn trưởng sức khỏe yếu, vẫn chưa dậy, con dâu Thái Thằng đang cắt tỉa cành cây trong sân.
Bỗng nghe tiếng bước chân gấp gáp, Thái Thằng ngẩng đầu lên, chỉ thấy phía cổng vòm có một nam nhân đi tới, chính là thôn dân thường làm việc vặt trong nhà thôn trưởng, tay còn cầm chổi chưa buông xuống, vừa đến gần đã thấp giọng gọi: “Cô nương Thái Thằng.”
“Chuyện gì?” Thái Thằng chẳng buồn ngẩng đầu, chỉ cúi đầu nhìn nhánh tùng trong tay.
“Vị tu sĩ họ Trình đó đã rời đi.”
Nam nhân kia lập tức nói.
“Đi đâu?”
“Xem hướng thì là…” sắc mặt hắn có phần kỳ lạ, giọng ngày càng nhỏ, “là phía tây.”
Phía tây…
Lông mày Thái Thừng lập tức nhíu lại, vẻ mặt trở nên âm trầm.
“Thật không biết hắn rốt cuộc là đến cứu khổ cứu nạn,”
Thái Thằng giơ tay lên, cây kéo sắc bén khép vào mở ra, cạch một tiếng, “hay là đến tìm chết.”
“Thái Thằng, cô nương Thái Thằng!”
Lúc này, vài người dân trong thôn thở hổn hển chạy tới, Thái Thằng không hiểu vì sao sáng sớm lại ồn ào như vậy, trong lòng nàng có phần bực bội, nhưng vẫn hỏi: “Chuyện gì?”
“Lão Ngư Đầu!”
Một người hàng xóm trong thôn chống tay lên đầu gối, thở hổn hển nói: “Lão Ngư Đầu chết rồi!”
Thái Thằng vẻ mặt nghiêm lại: “Ngươi nói gì?”
Người hàng xóm kia sắc mặt tái mét, mồ hôi vã đầy trán: “Nhà ta gần nhà lão Ngư Đầu nhất, tối qua ta đi tiểu đêm, vừa bước ra sân thì thấy lão Ngư Đầu hoảng hốt chạy về nhà, vừa chạy vừa la hét om sòm, ta gọi ông ta mấy tiếng mà ông ta hình như không nghe thấy, cứ hét toáng lên nào là Lâm Nương là yêu quái, muốn móc tim ông ta, hút máu ông ta…”
“Sau đó thì sao?” Thái Thằng hỏi hắn.
“Ta nghĩ chắc là ông ấy lại đi câu đêm rồi uống rượu say,” người hàng xóm kia lau mồ hôi trên mặt một cái, “nhưng ta vẫn đánh liều chạy qua hỏi một câu, nhưng ông ấy vào nhà rồi không chịu mở cửa, ta chỉ nghe thấy bên trong vang lên một trận lạch cạch, như là ông ấy đang lục lọi gì đó, một lúc sau ông ấy nhét vào tay ta một bọc bùa vàng, dặn ta tuyệt đối đừng ra ngoài vào ban đêm.”
“Bị ông ấy thao thao bất tuyệt nói như vậy, ta cũng thực sự thấy rợn cả người, liền chạy nhanh về nhà ngủ, sáng hôm nay ta dậy thì thấy có nhiều người tụ tập trong sân nhà ông ấy, gõ cửa mãi không thấy ông ấy trả lời, trời vừa sáng rõ hơn chút, mọi người mới phát hiện có vết máu dính trên khe cửa nhà ông ấy…”
Một người hàng xóm khác vừa kịp hồi sức liền tiếp lời: “Sáng nay ta vốn định đến mua cá của ông ấy, gõ cửa mãi không ai mở, nhìn thấy vết máu trên khe cửa, mọi người thấy lạ nên cùng nhau phá cửa xông vào… cô nương Thái Thằng, trong nhà toàn là máu!”
Lông mày Thái Thằng càng lúc càng nhíu chặt: “Các ngươi nhìn kỹ chưa, ông ấy chết như thế nào?”
Mấy người nhớ lại cảnh tượng thảm khốc trong căn nhà, sắc mặt đều càng tái nhợt, một người run rẩy môi, gắng gượng nói ra tiếng: “Là… là bị mổ bụng sống, moi tim.”
Ngực bị khoét một lỗ máu lớn, chẳng biết máu đã chảy bao lâu, từ nóng đến lạnh, từ giường xuống sàn, phủ kín căn nhà chật hẹp đơn sơ của lão Ngư Đầu.
Một người bỗng kích động nói: “Giống như Tiểu Hữu! Tiểu Hữu cũng bị moi tim mà chết!”
Khác biệt duy nhất chính là, thi thể Tiểu Hữu đã biến mất, chỉ còn lại trái tim, còn thi thể lão Ngư Đầu vẫn còn, nhưng trái tim thì chẳng biết đã đi đâu.
“Không phải nói, không phải nói trước đó là do bùn yêu gây họa sao?” một người trong thôn đều viết hết sợ hãi lên mặt, hắn lắp bắp nói: “Trình tiên trưởng rõ ràng nói đã thu phục con yêu quái đó rồi! Vậy lão Ngư Đầu… là thế nào đây!”
Thái Thằng không nói gì, nhưng vẻ mặt cực kỳ nghiêm trọng.
Nỗi sợ hãi của mọi người lan truyền lẫn nhau, hàng xóm thôn dân ở gần nhà lão Ngư Đầu nhất nhớ lại từng lời điên dại của lão Ngư Đầu tối qua, cơ mặt hắn co giật, hắn gần như có thể nghe thấy tiếng tim mình đập thình thịch:
“Chẳng lẽ, chẳng lẽ… thật sự là Lâm Nương?”
Sương mù mỏng phủ trên núi, hòa quyện cùng màu xanh của rừng trúc, Trình Tịnh Trúc bước đi một mình giữa cảnh sắc ấy, lá trúc xào xạc rơi vài chiếc trên vai hắn, hắn ngẩng đầu nhìn qua làn sương mờ lượn lờ quanh bụi trúc, bỗng dừng bước.
Phía sau vang lên tiếng bước chân giẫm qua lớp lá dày, Trình Tịnh Trúc xoay người lại, thấy nữ tử ấy mặc áo váy sặc sỡ hoàn toàn lạc điệu với khung cảnh sơn thủy như tranh mực nơi núi rừng, thấy hắn quay lại, nàng đứng yên đó, không tiến không lùi, chỉ mỉm cười với hắn.
“Huynh đi đâu vậy?” A Hằng hỏi.
Trình Tịnh Trúc lại chỉ nhìn nàng: “Cô nương A Hằng có chuyện gì sao?”
Lúc này Lâm Nương đang đứng cạnh A Hằng, liếc mắt thấy vị tu sĩ áo trắng trước mặt còn đeo một chuỗi bảo châu màu xanh nước trước ngực, bên hông là dây pháp khí hình đuôi rắn màu bạc, trên pháp khí treo lủng lẳng vài hạt châu trong suốt, mỗi viên châu đều cực kỳ trong sáng.
Tà áo hắn thêu vân bạc lấp lánh ánh trăng, giống như tượng thần phần trong miếu thờ kim điện, quần áo hoa mỹ mà thần sắc nghiêm nghị, Lâm Nương lại nhớ tới cái túi gấm rách xấu không tả nổi của A Hằng, lập tức đổ mồ hôi đầy đầu.
“Có chứ.” A Hằng không để ý đến tâm sự của Lâm Nương, bước vài bước tới gần Trình Tịnh Trúc.
Trình Tịnh Trúc khẽ nhíu mày, còn chưa kịp nói gì thì thấy A Hằng nắm chặt hai tay nói với hắn: “Huynh đưa tay ra.”
Trình Tịnh Trúc thấy nàng cười tươi roi rói, một lát, rồi cũng đưa hai tay ra, vừa mới mở lòng bàn tay ra, A Hằng liền đem hai thứ đồ nắm chặt trong tay đặt vào tay hắn.
Tay trái, là một viên bảo châu màu lam u tối, bên trong còn có ánh kim lấp lóe nhẹ.
Tay phải, lại là một cục vải vụn đủ mọi màu sắc.
Trình Tịnh Trúc dường như thoáng sững người.
A Hằng khoanh tay, khẽ nâng cằm: “Đều cho huynh.”
Tuy nói thế, nhưng A Hằng vẫn không nhịn được mà liếc nhìn viên châu một cái, có vẻ hơi tiếc nuối.
Trình Tịnh Trúc nhìn chằm chằm viên bảo châu màu lam u tối kia một lúc, rồi chuyển ánh mắt nhìn sang cục vải vụn trong tay kia, hắn nhướng mày, hỏi: “Cái này là gì?”
“…” Lâm Nương ôm trán.
Quả nhiên, cái thứ xấu xí này người thường nhìn vào chẳng ai biết là cái gì.
A Hằng hợp tình hợp lý nói: “Túi gấm.”
Trong mắt trầm tĩnh của Trình Tịnh Trúc dường như có một tia khó tin, hắn lại ngắm nghía cục vải vụn đó một hồi, thấy trên đó có vài đường chỉ thêu xiêu vẹo méo mó, A Hằng bèn giơ ngón tay ra chỉ vào những đường chỉ đó nói: “Họ nói huynh họ Trình.”
“…” Lâm Nương đứng bên cạnh, mặt không cảm xúc nhìn chữ “Trình” bị khâu đến méo mó gần như bị phân thây ra thành từng mảnh, dù nàng biết vị Trình tiên trưởng này chẳng hề hay biết đến sự tồn tại của nàng, nhưng với thân phận là thầy dạy thêu của A Hằng, nàng vẫn cảm thấy hơi mất mặt.
Trình Tịnh Trúc chẳng hề nói bất cứ cảm nghĩ gì về cái chữ kia, hắn dường như ánh mắt chợt lướt qua đầu ngón tay bị đâm chi chít lỗ kim của A Hằng, cái nhìn nhàn nhạt rồi nhanh chóng cầm lấy túi gấm, nói: “Đa tạ.”
Thật sạch gọn, không hề từ chối lấy một câu, mắt Lâm Nương sáng lê, nhưng nhìn thiếu niên tu sĩ này mặt vẫn thản nhiên, nàng trong lòng lại không khỏi thở dài, chẳng lẽ người tu hành như hắn đã quen thanh tu, đến mức không hiểu nỗi hàm ý kín đáo trong một chiếc túi gấm?
A Hằng thấy mọi việc tiến triển suôn sẻ, cảm thấy công sức thức suốt đem để khâu vá cũng không uổng phí, khẽ cong mắt cười, nhưng lại nhìn về phía ngực áo và dây trang sức bằng bảo châu bạc bên hông hắn, không nhịn được hỏi: “Huynh rõ ràng đã có rất nhiều thứ đẹp đẽ như vậy, sao còn muốn lấy cái này?”
Ánh mắt nàng dừng lại trên viên bảo châu màu lam u tối trong tay hắn.
Trình Tịnh Trúc cũng nhìn theo, nhưng hỏi lại nàng: “Cô biết đây là gì không?”
A Hằng không chút do dự: “Là thứ đẹp nhất mà ta từng thấy.”
Lời A Hằng nói không sai, viên bảo châu lam thẫm này thậm chí còn rực rỡ hơn cả những trang sức trên người Trình Tịnh Trúc, nó như chứa một vũng suối sâu thẳm, phản chiếu ánh sao trời, ánh sáng lung linh xoay chuyển, lộng lẫy vô cùng.
Ngón tay cầm túi gấm bằng vải vụn của Trình Tịnh Trúc siết nhẹ một chút, trong mắt hắn dường như không gợn sóng, chỉ liếc nhìn nàng một cái, sau đó viên bảo châu nhẹ nhàng lơ lửng khỏi tay hắn, A Hằng theo bản năng đưa tay đỡ lấy viên châu kia, ngẩng đầu chỉ thấy hắn đã quay lưng đi, lạnh nhạt nói: “Là cô tìm được, thì là của cô.”
Gió núi lướt qua, bóng dáng hắn nhanh chóng nhạt dần trong màn sương.
“A Hằng! Mau giữ hắn lại!”
Lâm Nương liếc nhìn về phía trước, mới nhận ra nơi này là đâu, sắc mặt nàng khẽ biến, vội nói với A Hằng: “Phía trước chính là trấn cũ! Ở đó bị sương độc bao phủ suốt ngày đêm, thôn dân chúng ta từng có rất nhiều người chết ở bên trong!”
Câu chuyện mà Thái Thằng kể trong động Sơn Thần, A Hằng vẫn còn nhớ, nàng ngẩng đầu nhìn ra xa, quả nhiên thấy sương mù dày đặc bao trùm nơi xa, chẳng thể thấy dáng núi, màn sương đặc quánh u ám vô cùng.
“Thì ra là nơi này.”
A Hằng không những không gọi vị tiểu thần tiên kia quay lại, mà còn lặng lẽ bước theo phía sau hắn giữ khoảng cách không gần cũng không xa.
Lâm Nương lo đến toát mồ hôi đầy đầu: “Cô không sợ hắn hít phải sương độc sao? Cái đó thật sự có thể giết người đấy!”
A Hằng vẫn không phản ứng, lúc này một làn gió núi nhẹ nhàng thổi qua giữa nàng và Lâm Nương, lay động vạt áo Lâm Nương, tiếng lá trúc xào xạc vang lên, A Hằng khẽ ngẩng mắt nhìn về phía trước.
Gió núi cuốn bay sương trắng con đường phía trước, dùng khí thế sắc lạnh như dao hướng thẳng về bóng áo trắng đang dần xa, A Hằng lập tức giơ tay lên, sương mù tụ lại như tầng mây mềm mại.
Gió bị cản, đột ngột tản ra tứ phía.
Lá trúc trong rừng rì rào lay động, bước chân Trình Tịnh Trúc khựng lại, cúi đầu nhìn chiếc lá trúc mảnh dài màu xanh biếc vừa nhẹ nhàng rơi xuống vai áo mình.
Gió lạnh lùa qua rừng, mang theo âm thanh rất nhỏ lẫn trong đó, A Hằng nhạy bén ngửi thấy một mùi vị âm u, ẩm thấp và đục ngầu trong gió.
Bọn chúng đang ẩn nấp, nhưng không kiềm nổi bản năng mà nhẹ nanh lộ vuốt.
Âm thanh rên rỉ vì đói bụng vang lên khắp rừng.
Lâm Nương rùng mình một cái, còn chưa hiểu được ngọn ngành cơn gió quỷ dị ấy, đã thấy A Hằng đột nhiên quay đầu lại, hai mắt nàng lóe lên ánh đỏ sẫm, tiếng rên khe khẽ trong rừng lập tức im bặt.
Trong làn sương nhạt, mấy bóng trắng nhợt chợt lộ ra thân hình.
Lâm Nương bị khuôn mặt méo méo, thân thể phủ đầy nấm trắng, còn dính cả những mảnh máu thịt chưa tan hết nơi xương cốt của bọn chúng dọa cho hét toáng lên: “A a a quỷ!”
A Hằng quay lại nhìn nàng đầy khó hiểu.
Lâm Nương lúc này mới nhớ ra mình hình như cũng là quỷ, nhưng nàng nhìn đám sinh vật kia đầu lắc lư, hình dạng kỳ dị, miệng nửa là xương sọ nửa là nấm mốc liên tục chảy ra chất lỏng nhớp nháp, Lâm Nương có linh cảm, nếu bọn chúng có cả tròng mắt, chắc chắn tròng mắt ấy sẽ bay ra mà dính chặt vào người thiếu niên tu sĩ kia.
Nhưng bọn chúng lại đang run rẩy.
Là cái loại toàn thân run như cầy sấy, từ xương cốt đến đầu ngón tay.
Chúng đang sợ hãi.
Lâm Nương biết. chúng đang sợ hãi A Hằng đứng cạnh nàng.
Thế nhưng có lẽ vì quá đói bụng, dẫu thân thể bọn chúng đã mục rữa, ruột gan chẳng còn, nhưng Lâm Nương vẫn nghe thấy tiếng kêu ọc ọc vang lên liên tục.
Cuối cùng bọn chúng vẫn lao lên, tiếng hét ghê rợn vang trời, thân hình gầy guộc như bộ xương khô nhào về phía bóng áo trắng kia.
Ngay khoảnh khắc ấy, ngón tay A Hằng cong lại, một luồng sương mù đỏ sẫm tản ra từ lòng bàn tay nàng.
Gần như cùng lúc đó, những quái vật kia, thân xác phủ nấm và thối rữa lập tức tan thành tro bụi.
Sương mù núi dập dờn, gió núi thổi qua, tro bụi tản đi, để lại một mùi nấm nồng nặc lan ra trong không khí.
“Ta sẽ không bao giờ ăn nấm núi nữa.” A Hằng nói.
“… chúng, chúng là nấm núi tinh sao?” giọng Lâm Nương run rẩy.
“Không phải, là loài người.”
Giọng A Hằng nhẹ nhàng: “Là thi thể người bị nấm ăn mòn, rồi nấm và người hợp lại thành một, mượn khí của con người để thành tinh.”
Thế nhưng căn cơ vẫn ở đây, chúng không thể ra khỏi cánh rừng này, nên chất dinh dưỡng không đủ, vì thế mới đói meo, vừa ngửi thấy vị tu sĩ áo trắng kia toàn thân thanh khí, liền thèm nhỏ dãi.
Người nấm mà thôi, vậy mà cũng dám tranh mồi với nàng.
A Hằng quay đầu lại, vị thiếu niên tu sĩ kia chẳng rõ đã dừng bước từ khi nào, có lẽ bởi vì hắn là thân người, nên dường như không nghe được tiếng quỷ khóc sói gào của đám người nấm vừa rồi, chỉ cúi đầu chăm chú nhìn vật gì trong tay, A Hằng vén váy vội vàng bước tới, mới nhìn rõ hắn đang kẹp một chiếc lá trúc mỏng sắc nơi đầu ngón tay.
Màu xanh ngọc biếc nổi bật khiến khớp ngón tay hắn càng thêm trắng bệch.
“Tiểu thần tiên.”
Trình Tịnh Trúc nghe thấy giọng nàng, rồi cảm thấy tay áo mình bị níu nhẹ, hắn cúi đầu, thấy một đôi tay trắng nõn thon dài đang túm lấy tay áo mình, hắn ngẩng đầu, bắt gặp đôi mắt đen nhánh sáng ngời của A Hằng.
Vẻ mặt nàng có vẻ hơi lúng túng, ánh mắt như chứa nước mắt lóng lánh: “Ta sợ, chúng ta quay về đi, về nhà ta, ta mời huynh ăn nấm núi hầm… à không, ăn gà nướng.”
Khám phá thêm từ VIVIAN THÍCH ĂN DÂU TÂY
Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.
