Tác giả: Tiện Ngư Kha
Gia Tĩnh đế của vương triều Đại Minh suốt đời chưa từng trông thấy đại dương, nhưng qua những tấu chương dày cộp trên bàn, ông thấy hết hưng vọng thịnh suy của đại dương.
Giặc Oa(*), hải tặc, buôn lậu… những từ khiến người ta đau đầu ấy là ấn tượng duy nhất của vị đế vương này về biển, từ Tử Cấm Thành được núi non bao bọc không thể thấy được sự giàu có cuồn cuộn từ bờ biển, tổ tiên đã nói biển là mãnh thú, vì thế chỉ đành theo phép tổ tiên, cấm tuyệt tất cả, chỉ cho phép tàu của triều đình ra khơi, như thể đó là một biện pháp vĩnh viễn.
(*) Trung Quốc và Triều Tiên thường dùng Oa Quốc để chỉ nước Nhật, còn người Nhật gọi là Oa nhân, ngày xưa dân Nhật nghèo khó, người được một mẩu mà chuyên hành nghề hải tặc, đi thuyền chài sang Triều Tiên và Trung Quốc để cướp bóc nên gọi là Oa Khấu (giặc lùn).
Nhưng sự đời lại không như ý muốn.
Dần dần, người ta ngày càng cải tiến tàu thuyền, giương buồm đón gió vượt sóng, phát hiện ra phía bên kia đại dương mênh mông không có gì đáng sợ, cũng chỉ là một đám người phương tây cầm bạc trắng tới mua hàng quý của Thiên Triều(*), nỗi sợ hãi trước đại dương của mọi người cứ thế dần phai nhạt, khi các truyền thuyết như Tinh Vệ lấp biển, Na Tra náo biển, Bát Tiên vượt biển bị đưa lên sân khấu kịch một cách ồn ào, thời đại chư thần cuối cùng lùi xa, hiện giờ là thời đại nhân định thắng thiên.
(*) Thiên Triều là một tên cũ được dùng để chỉ nước Trung Quốc.
Muốn làm ăn, muốn bạc trắng, muốn phát tài, nguyện vọng của bá tánh giản đơn là vậy.
Trong vô số châu phủ ven vùng duyên hải này, Tĩnh Gia đế có tình cảm đặc biệt phức tạp với phủ Ninh Ba.
Nơi đây từng có tên là Minh Châu, nhưng để tránh tên húy của quốc hiệu triều Đại Minh, Thái Tổ Hồng Vũ đích thân ban tên mới: Ninh Ba, mang ý nghĩa “Biển yên thì sóng lặng”.
Đúng như ngụ ý của cái tên, nơi đây hàng trăm năm chưa từng xảy ra thiên tai lớn, giúp quốc khố tiết kiệm được rất nhiều ngân lượng, nhưng về phương diện khác Gia Tĩnh đế lại cho rằng Thái Tổ ban tên là đã quá rộng rãi, vì một khi biển yên lặng, những người sống dựa vào biển sẽ bắt đầu trở nên bồn chồn, từ đó sinh ra vố số điêu dân lòng tham không đáy.
“Cảng Như Ý” ở phủ Ninh Ba là cái tên thường xuyên xuất hiện trong tấu chương, trở thành tâm bệnh lớn của quân vương vào năm Gia Tĩnh thứ hai mươi.
Càng Như Ý nằm ở điểm trọng yếu Hải Thử, là cửa ngõ phía đông Ninh Ba, được xây từ năm Vĩnh Lạc thứ năm, tính đến nay đã có lịch sử lâu đời.
Năm xưa, khi thái giám Tam Bảo Trịnh Hòa lần đầu từ Tây Dương trở về, triều đình dù nghiêm cấm hàng hải, nhưng để thể hiện uy nghi của Thiên Triều, đặc cách cho phép thông thương với nước Nhật. Trịnh Hòa phụng chỉ giám sát xây cảng này, đứng trên cao ngắm biển, thấy vịnh biển dài khoảng ba dặm, chỗ rộng nhất chưa đến một dặm, từ trên nhìn xuống, tựa như dải ngọc ôm lấy vịnh, thủy triều lên xuống như ngọc lưu chuyển, giống như tường mây trải rộng, đất bồi uốn lượn cửu chuyển, giống như hoa văn ngọc như ý, khớp nhau đến lạ.
Thái giám Tam Bảo cảm thán: “Trong sách cổ chép rằng ở Côn Luân có linh khí như ý, cầm lấy có thể bình phong yên sóng. Nay thấy cảng này trời sinh hình dáng cát tường, thủy triều lên xuống giống như như ý chuyển động, ắt sẽ phù hộ cho tàu bè qua lại.” Thế là sai thợ thủ công khắc bia đá “Như Ý Thông Tân”.
Trong cảng đặt nha môn Thị Bạc Tư, chuyên trách giao thương với nước Nhật. Mỗi tàu ngoại quốc cập cảng, trước tiên phải trình nộp giấy nghiệm xét, để được cho phép cập bến. Từ đó, các thương nhân vào cảng đều treo cờ Như Ý, biển không dậy sóng, chợ búa ồn ào náo nhiệt, bá tánh gọi là “cảng Như Ý”, rồi cái tên ấy trở thành danh xưng cố định.
Nhưng đến đầu thời Gia Tĩnh, do “Chiến tranh tranh cống”, triều đình ngừng cấp giấy nghiệm xét cho Nhật Bản, Thị Bạc Tư thành hữu danh vô thực. Trong nha môn chỉ còn bức bản đồ phòng thủ bờ biển treo lơ lửng, như một tấm tranh vô dụng.
Thế nhưng hàng hóa của Thiên Triều quý giá, bạc trắng hấp dẫn, có rất nhiều người mưu đồ kiếm lợi, vậy là người Phật Lang Cơ(*) (bây giờ gọi là Bồ Đào Nha) đường xa mà đến, thừa cơ chen chân, cấu kết với thương nhân ven biển Chiết Đông, để buôn lậu ngoài khơi.
(*) Phật Lang Cơ là một cách gọi trong tiếng Hán của người Bồ Đào Nha thời xưa, và đôi khi được dùng để chỉ các loại súng có nguồn gốc từ phương Tây.
Trong số thương nhân Chiết Đông, có một người tên là Trầm Tam Phục, ban đầu chỉ là một thư sinh, thi cử mãi không đỗ, không chịu nổi thuế má hà khắc của quan phủ, nên dẫn dân làng xuống biển mưu sinh. Hắn hiểu rõ lợi thế địa lý của cảng Như Ý, vì thế coi đó làm gốc, chiêu nạp kẻ trốn chạy bốn phương, có nông dân bỏ ruộng vì thuế ruộng quá cao, ngư dân mất việc vì lệnh cấm đánh cá, đầu bếp bỏ trốn vì sự áp bức của thuế muối, thậm chí có cả thư sinh thi cử không được như ý, quan lại nhỏ mất chỗ dựa chốn quan trường.
Một nhóm ô hợp, vậy mà dần dần biến cảng hoang phế này làm ăn đến phồn hoa tựa cẩm.
Họ sữa chữa bến tàu trong cảng, có thể đậu hàng chục tàu lớn; hai bên bờ xây dựng phố chợ, cửa hàng san sát, buôn bán tơ lụa đồ sứ, hương liệu, dược liệu, thậm chí có cả kho hàng Hồng Mao do người Bồ Đào Nha mở, chuyên bán đồ phương Tây kỳ lạ. Giữa cảng xây Lầu Vọng Hải, cao năm tầng, lên đó có thể trông thấy biển cả xa xa, ngoài ra còn có miếu Long Vương hương khói nghi ngút, mỗi mùng một, rằm mười lăm, Trần Tam Phục đều tự dẫn người tế lễ, cầu cho hành trình biển khơi bình an.
Những người này vốn chỉ vì kế sinh nhai ép buộc, xuống biển mưu sinh, lại bị triều đình một mực xem là giặc Oa. Trần Tam Phục lòng mang chí lớn, không muốn làm địch với triều đình, ngược lại giúp đỡ quan phủ dẹp biển, đánh lui giặc Oa.
Mấy năm liền, hắn nhiều lần cử sứ giả đến triều đình thương thuyết, xin triều đình gỡ lệnh cấm biển, cho phép dân giao thương. Thậm chí hắn còn tự tay viết biểu văn dài ngàn chữ, trình lên nói rõ nước Nhật thiếu tơ lụa, phải mở cảng biển, mới yên biển được. Dân Ninh Ba từng đồn đại rằng, triều đình hoặc sẽ cho phép cảng Như Ý hoạt động như cảng tư, cho thương dân được hợp pháp giao dịch.
Thế nhưng đến mùa thu năm Gia Tĩnh thứ hai mươi tám, biến cố xảy ra.
Khi quân triều đình tuần tra biển, phát hiện đoàn thuyền của Trần Tam Phục lại tấn công giết hại một thuyền quan binh, ném xác xuống biển. Triều đình phẫn nộ, hai bên đàm phán tan vỡ. Tuần phủ Chiết Giang đích thân dẫn đại quân bao vây diệt trừ cảng Như Ý, huyết chiến ba ngày, trong cảng biển lửa ngút trời, Trần Tam Phục lực chiến không địch lại, cuối cùng bị chém đầu. Đa số thuộc hạ tử trận, chỉ một số ít người thoát thân bằng thuyền nhỏ, lẩn vào biển khơi, con gái duy nhất của Trần Tam Phục là Hải Anh, khi ấy mới mười sáu tuổi, từ đó biệt tích, dân gian đồn rằng nàng theo tàn binh trốn sang Nam Dương, nhưng không ai xác thực.
Hải chiến qua đi, những cánh buồm rách nát trôi dập dềnh trên mặt biển, như muôn vàn lá cờ trắng phấp phới, tiễn biệt sự phồn hoa đã khuất nơi biển cả, vậy nên trận đại chiến này được gọi là “Biến Cánh buồm than khóc”.
Cảng Như Ý chỉ còn lại bia đá “Như Ý Thông Tân” bị chôn vùi nửa trong cát, từ đó không còn tiếng hò biển, không còn bóng thương thuyền, tâm bệnh của Gia Tĩnh đế cuối cùng cũng bị dập tắt, sự hủy diệt của cảng Như Ý trở thành chiến tích của kẻ thắng lợi.
Sau tường cao lũy sâu, cảnh tượng ngàn buồm tranh gió xưa kia dần phai mờ, nhưng đình đài lầu các vẫn còn, nước biếc cát vàng chưa hề đổi thay.
Năm sau, liền có thế gia vọng tộc ở Ninh Ba nhìn trúng địa thế linh khí nơi này, mượn danh nghĩa “Cấm hải bình loạn”, biến xiềng xích nơi biên giới biển thành chiếc chìa khóa danh lợi, vừa tâng bốc sự anh minh của triều đình, vừa khoe khoang gia thế hiển hách, tấu thỉnh quan phủ mở bến cảng trở lại nhưng chỉ dùng làm nơi yến tiệc vui chơi.
Họ Tiền ở huyện Ngân dẫn đầu mở “Yến Triều Tín”, mời Đạo đài Chiết Đông, tri phủ Ninh Ba và ba mươi sáu vị tộc trưởng đến Lầu Vọng Hải trong cảng Như Ý dự tiệc, trong bữa tiệc dùng bát sứ men lam của Ngự Diêu Cảnh Đức đựng cá thì Đông Hải, rượu vàng Thiệu Hưng làm mồi, tiếng tơ tiếng trúc vang suốt đêm, đây là khởi đầu cho một phong trào.
《Triều Tịch Bộ》do Trần Tam Phục để lại bị đám quý tộc sửa thành 《Yến Hải Lục》, mỗi năm từ tháng ba đến tháng tám, theo chu kỳ thủy triều, tổ chức bảy yến, lần lượt là: Mồng ba tháng ba, yến Khai Dương, triều xuân bắt đầu dâng; hai mươi tháng tư, yến Giao Châu, thủy triều trăng tròn; mười lăm tháng năm, yến Tỏa Cảng, nghịch lưu gợn sóng; hai mươi bốn tháng sáu, yến Thiên Phàm, hạ chí bình triều; mồng bảy tháng bảy, yến Quy Khư, quỷ triều xoáy về; rằm tháng bảy, yến Tinh Tra, triều lặng giữa khuya; mười tám tháng tám, yến Lộng Triều, triều chỉ Tiền Đường. Khi “Yến Triều Tín” ở cảng Như Ý được tổ chức, các hào tộc Chiết Đông vì tranh suất tổ chức bảy yến hội mỗi năm mà tranh đấu không ngừng.
Phủ Ninh Ba là vùng phì nhiêu ở Chiết Đông, cũng là nơi văn học thịnh vượng, khắp nơi đều có những người giàu có, có rất nhiều quan lớn kinh thành cáo lão hồi hương, nhiều đời là tài tử thế gia trâm anh. Có thể tổ chức một buổi yến tiệc ở cảng Như Ý, liền chứng tỏ gia tộc đã vươn lên hàng đầu Chiết Đông.
Không chỉ các gia tộc ganh đua, mà đến cả việc được mời, cũng đều là một vinh dự to lớn. Vọng tộc liên hôn ở Dũng Thượng, đều hỏi “Có từng nhận được thiếp Như Ý chưa?”. Dần dà, một tấm thiếp khó cầu, ai nhận được đều đem thiếp Như Ý giấy đỏ rắc vàng ấy thờ trong từ đường ba ngày, dạy con cháu về sự hưng thịnh của gia tộc.
Hải cảng trở thành nơi ăn chơi xa hoa, cảng Như Ý thành nơi phô trương của quyền quý, kéo bè kéo cánh, ngắm trai gái chọn rể kén dâu, có ai còn nhớ, nơi đây từng là ảo ảnh cứu rỗi biết bao người đường cùng?
Khám phá thêm từ VIVIAN THÍCH ĂN DÂU TÂY
Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.

