Tác giả: Phong Ca Thả Hành
Xe ngựa dừng trước cửa tửu lâu Vạn Nghênh, Lữ Hồng đã sớm thu xếp đâu vào đó, bảo tửu lâu chuẩn bị nhã gian xa hoa nhất. Trong phòng, lò sưởi đã được đốt từ trước khiến không gian ấm áp, vừa ngồi xuống, tiểu nhị đã nối đuôi nhau bưng thức ăn vào, rượu ngon món ngon đầy đủ, nóng hổi nghi ngút khói, lần lượt được bày lên bàn.
Lữ Hồng lúc thì gắp thức ăn cho mọi người, lúc lại xách vò rượu rót rượu, bận rộn chạy tới chạy lui chẳng khác nào con quay xoay vòng, tuy thân hình béo ục ịch nhưng tay chân lại nhanh nhẹn vô cùng, mức độ nịnh nọt của ông khiến ngay cả Phùng Tông người vốn tự nhận mình là kẻ giỏi xu nịnh nhất cũng phải cúi đầu nhận mình kém hơn.
“Rượu này là hạ quan nhờ người mang từ vùng biên ải phía bắc về, nơi đó mùa đông vô cùng giá rét, vì vậy rượu được ủ ra có vị trong trẻo, đậm đà, thơm nồng, ngay cả kinh thành cũng hiếm có, hạ quan đặc biệt dâng một vò, mong vương gia và Triệu đại nhân nể mặt.” Lữ Hồng vừa nói vừa đi đến trước mặt Lục Chước Quang, ông liếc nhìn vị tú tài đang ăn uống hết sức tao nhã, giả vờ định rót rượu nhưng miệng lại hỏi, “Lục tú tài uống một chén chứ?”
Lục Chước Quang mỉm cười đáp: “Kẻ đọc sách, không uống rượu.”
Câu trả lời vừa hay đúng ý Lữ Hồng, ngoài miệng ông còn nói đáng tiếc, nhưng không hề khuyên thêm một câu nào, lập tức xách vò rượu đi chỗ khác. Vừa ngồi xuống, ông đã không kìm được mà bắt đầu kể về những chuyện mình từng chứng kiến ở biên ải phía bắc.
Phùng Tông đã sớm dò hỏi lai lịch của vị tri huyện mới nhậm chức này. Lữ Hồng từng làm việc ở vùng biên giới phía bắc, khi quân địch xâm phạm, quân Đại Tề thất bại, phải lui về sau hàng chục dặm, đúng lúc quân địch tiến đến trước thành trấn nơi Lữ Hồng đang làm việc, ông cùng các tướng sĩ trong thành liều chết giữ cửa thành, cầm cự cho đến khi viện quân tới, cuối cùng bảo toàn được tính mạng của toàn bộ dân chúng trong thành.
Chính nhờ công lao ấy, dù người này trong bụng chẳng có bao nhiêu chữ nghĩa, đầu óc cũng chẳng có gì, ông vẫn có thể lăn lộn trong quan trường nhiều năm, nay lại được các quan lớn bên trên hết lòng tiến cử, tiếp nhận vị trí của Hứa Phụng, trở thành tri huyện cai quản cả một huyện.
Có điều ông thực sự quá mức nịnh nọt và thích khoe công, trên bàn tiệc ông còn cố ý hoặc vô tình khoe khoang chiến tích năm xưa của mình ở biên ải phía bắc, bởi vậy chẳng được ai yêu thích. Tề Huyên và Triệu Cách đều lười để ý đến ông ta, còn Lục Chước Quang thì chỉ cúi đầu chăm chú ăn cơm, duy chỉ có Phùng Tông, người sau này sẽ phải làm việc dưới trướng Lữ Hồng, không dám lơ là, ông chỉ có thể cẩn thận phụ họa, hết sức làm người tung hứng cho Lữ Hồng.
Với thân phận của Chu Hạnh, đương nhiên nàng không thể ngồi ăn cùng các quan viên lớn nhỏ kia, nên đành cùng những thị vệ khác xuống dưới lầu, ăn tạm một bát mì chay cho xong bữa trưa.
Mì vừa được vớt ra khỏi nồi, bưng lên vẫn còn nóng hổi, khói trắng bốc nghi ngút, Chu Hạnh ra ngoài quá vội, chỉ mới ăn qua loa chút hạt dưa và vài miếng hoa quả sấy, nên từ lâu đã đói meo, bụng dính sát vào lưng. Lúc này, nàng dùng đũa gắp lên một miếng mì lớn, phồng má thổi phù phù mấy cái, rồi nhét cả vào miệng, ăn uống mạnh mẽ, khí thế hừng hực, hoàn toàn chẳng có chút dáng vẻ tao nhã nào.
Một bát mì, nàng sùm sụp mấy miếng là ăn hết, sau đó bưng bát lên uống vài ngụm nước dùng nóng để sưởi ấm cơ thể, vừa đặt đũa xuống, nàng liền nhìn thấy người ngồi ở bàn bên cạnh chính là Lý Ngôn Quy, thủ lĩnh đội thị vệ.
Chu Hạnh đã để ý đến hắn từ lâu, người này tuy lúc nào cũng mặt lạnh, vẻ mặt nghiêm nghị, chẳng mấy khi cười nói, nhưng hành vi lại kỳ quặc đến mức khiến người khác chẳng thể hiểu nổi.
Hắn luôn mang theo bên mình một quyển sổ nhỏ, thỉnh thoảng lại viết viết vẽ vẽ gì đó vào trong, lần trước Chu Hạnh để ý, còn đặc biệt lén nhìn mấy lần, phát hiện chữ hắn viết trong sổ vô cùng tùy tiện, thậm chí hiếm khi có nổi một câu hoàn chỉnh.
Lúc này quyển sổ ấy vẫn đặt ngay bên tay hắn, Chu Hạnh liếc mắt nhìn, không ngờ trên bìa lại viết bốn chữ lớn “Ngôn Quy Chính Truyện”.
Đang quan sát, Lý Ngôn Quy đã ăn xong bát mì, hắn cầm quyển sổ lên rồi bắt đầu viết vẽ, chỉ vài nét nguệch ngoạc, hắn đã vẽ một cái đầu người có đủ mắt mũi, sau đó lại vẽ thêm phía sau một con gà quay.
Chu Hạnh nhìn mà chẳng hiểu gì, đành thu hồi ánh mắt, chủ động bắt chuyện: “Lý thị vệ huynh có ăn quen khẩu vị ở Đan Ngọc không?”
Lý Ngôn Quy quay đầu nhìn nàng. Người này có làn da hơi sẫm màu, thân hình cường tráng, bên hông luôn đeo một thanh trường đao không rời, trên khuôn mặt gần như chẳng nhìn thấy biểu cảm nào khác, đôi mắt sâu lạnh khi nhìn người khác luôn mang theo cảm giác lạnh lùng dò xét.
Hắn không có ý định nói chuyện phiếm với Chu Hạnh, chỉ đáp ngắn gọn: “Cũng được.”
Nói xong, hắn cứ như sợ Chu Hạnh sẽ kéo mình nói chuyện thêm, lập tức quay ngoắt đầu lại, tiếp tục chuyên tâm sáng tác trên quyển sổ của mình.
Chu Hạnh cũng không nói thêm gì, đại sảnh đông người, tuy ồn ào nhưng cũng ấm áp, nàng buồn ngủ ngáp một cái, nghĩ bụng mấy người trên lầu kia chẳng biết còn ăn đến bao giờ, bèn lấy tay kê đầu, gục xuống bàn ngủ gà ngủ gật, chẳng màng hình tượng chút nào.
Đợi đến khi Lục Chước Quang và mấy người kia từ nhã gian xuống thì đã quá giờ Ngọ. Lần này khi lên xe, Lục Chước Quang đã khôn ra, chủ động ngồi sát bên Phùng Tông trước, Chu Hạnh có mặt dày đến đâu cũng không thể chen vào một chỗ ngồi cùng hai người, đành ngậm ngùi ngồi đối diện.
Lúc này chính là thời điểm náo nhiệt nhất trong ngày ở trong thành, đường phố Đan Ngọc vốn không rộng, người qua lại trên phố lại đông đúc, xe ngựa cứ đi rồi lại dừng, mất không ít thời gian, Chu Hạnh dùng đủ mọi tư thế nằm ngồi xiêu vẹo, chân tay chỏng chơ để chợp mắt mấy lần, cuối cùng, xe ngựa mới dừng lại trước cửa sòng bạc.
Vừa dừng hẳn, Chu Hạnh đã sốt ruột nhảy xuống, vươn vai duỗi người, các khớp xương kêu răng rắc khe khẽ.
Sòng bạc này được xây ở nơi náo nhiệt nhất trong thành, hai bên đường trước cửa mọc đầy các cửa hàng đủ loại, những người bán hàng rong đi khắp hang cùng ngõ hẻm cũng rất thích lui tới đây, đôi khi gặp may, bắt gặp người vừa thắng tiền bước ra, họ thường xuống tay rất hào phóng.
Sòng bạc không có cửa sau, mấy người chỉ đành đi vào từ cửa chính. Vừa bước qua cửa, tiếng ồn ào lập tức ập vào mặt như sóng triều, những kẻ thắng đến đỏ mắt vì phấn khích, người thua thì cay cú đỏ cả mắt, ai nấy đều lớn tiếng la hét, tiếng xúc xắc lắc trong bát vang lên lách cách không ngừng. Phần lớn những người vây quanh bàn bạc đều là đàn ông lớn tuổi, chuyện vệ sinh cá nhân cũng chẳng mấy chú trọng, vì vậy trong không khí tràn ngập đủ loại mùi kỳ quái, chẳng thể nói là dễ ngửi.
Phùng Tông và Lữ Hồng dù sao cũng đã quen sống ở nơi nhỏ bé, nên không cảm thấy khó chịu. Vị vương gia Tề Huyên còn chưa tỏ vẻ ghét bỏ, Triệu Cách đã là người đầu tiên bịt mũi, lộ rõ vẻ chán ghét, một sòng bạc nhỏ tùy tiện nào ở kinh thành cũng có môi trường tốt hơn nơi này gấp mười lần. Triệu Cách vốn là công tử sinh ra đã sống trong nhung lụa, hiếm khi đặt chân đến nơi vừa hỗn tạp vừa nghèo nàn như vậy, hắn lập tức bảo Lý Ngôn Quy đi trước mở đường, tránh để kẻ nào không có mắt va phải người hắn.
Trong sòng bạc khói bụi mù mịt, hoàn toàn không phải nơi mà người đọc sách như Lục Chước Quang nên lui tới. Hắn tụt lại rất xa phía cuối đoàn, cẩn thận tránh những người xung quanh đang gào khóc, kêu la, khoa chân múa tay.
Còn Chu Hạnh thì hoàn toàn ngược lại, nàng quả thực giống như rùa được thả về ao, coi như trở lại địa bàn quen thuộc của mình. Nàng luồn lách giữa đám đông như cá bơi trong nước, nhanh chóng tìm được đường giữa biển người chen chúc, dẫn mấy người đi về phía trước, cứ cách vài bước, nàng lại nhiệt tình chào hỏi người quen: “Lưu đại gia, vợ ông trước đây đã nói rồi, còn đánh bạc nữa là đánh gãy cái chân chó của ông đấy, thế mà ông vẫn dám đến à?”
Hoặc nàng móc ra vài đồng tiền, đập xuống bàn: “Ván này ta cược cửa lớn, thắng tiền thì chia cho ta một nửa nhé!”
Hoặc nàng lại túm lấy cổ áo người khác, mắng: “Tên khốn nhà ngươi, cuối cùng cũng để ta tóm được rồi! Đừng tưởng ngươi lớn tuổi thì ta không dám đánh ngươi, hai mươi văn tiền ngươi nợ ta, bao giờ mới trả?”
Tề Huyên nhìn mà đau cả đầu, thầm nghĩ: Rốt cuộc Phùng Tông kiếm đâu ra một kỳ nhân thế này, ở chốn thanh lâu mà nàng đã thành thạo thì thôi, đến sòng bạc lại càng như giao long xuống biển, biến hóa đủ kiểu để phô ra bản lĩnh, bây giờ còn định ngay trước mắt mấy vị quan viên mà động tay đánh người.
Phùng Tông cũng cảm thấy như vậy thật chẳng ra thể thống gì, đang định bước lên can ngăn thì thấy một tiểu đồng chạy việc từ phía đối diện chạy tới, cậu nhóc chừng mười ba, mười bốn tuổi, mái tóc rối bù, thần sắc lanh lợi, vui vẻ gọi: “Hạnh tỷ!”
Chu Hạnh đưa tay vò mái tóc của cậu một cái, cười tủm tỉm: “Tóc tai cũng chẳng chịu buộc cho tử tế, định dựng cả ổ chim trên đầu đấy à?”
Tiểu đồng hơi đỏ mặt, gãi đầu ngượng ngùng rồi quay người nói: “Ông chủ đã đợi tỷ nửa ngày rồi, đặc biệt sai đệ xuống đây đón tỷ, mau đi theo đệ lên trên đi.”
Chu Hạnh đã báo trước từ lâu, nên ông chủ sòng bạc đã sớm chờ trong phòng.
Lúc ăn trưa, Phùng Tông từng nhắc đến chuyện ông chủ sòng bạc này là một nhân vật thần bí, chẳng rõ lai lịch, rất ít khi lộ diện, quanh năm cũng chẳng có mặt ở sòng bạc. Lần trước Phùng Tông dẫn người của nha môn đến đây, ông đã bị đám tiểu nhị lấy lý do “ông chủ không có ở Đan Ngọc” để khéo léo từ chối, không thể gặp được người này.
Đan Ngọc còn kém xa kinh thành, mười năm trước, nơi này thậm chí còn là vùng đất thổ phỉ hoành hành, để lại rất nhiều thói quen của những “thế lực dân gian”, ở kinh thành, chỉ cần giơ một tấm lệnh bài hoặc cầm theo một tờ lệnh khám xét là có thể thông suốt không trở ngại. Nhưng ở nơi này, nếu không có chút quan hệ và giao tình, cho dù có lật tung mọi thứ lên để điều tra, chưa chắc đã thu được kết quả gì.
Vì vậy, một người như Chu Hạnh mới càng trở nên lợi hại. Đừng thấy nàng ngày ngày rong chơi lêu lổng, chẳng có công việc đàng hoàng mà xem thường, nàng lại có ít nhiều giao tình với đủ loại người, ở Đan Ngọc cũng được xem là một nhân vật có tiếng tăm.
Có điều, kiểu “uy phong” ấy khi đặt lên một người nữ tử lại khiến người ta không khỏi dị nghị, mọi người ngoài miệng tuy hết lời khen ngợi nàng, nhưng trong mấy năm sống ở Đan Ngọc, chẳng có bà mối nào từng bước qua ngưỡng cửa nhà Chu Hạnh.
Ra khỏi đại sảnh tầng một, tấm rèm cửa dày nặng buông xuống, không gian xung quanh lập tức yên tĩnh hơn hẳn, Chu Hạnh vừa đi vừa nói với những người khác: “Vị nghĩa huynh này của ta họ Tiêu, tên Thiệp Xuyên, huynh ấy là một kỳ tài trong việc kinh doanh, còn trẻ mà gia sản đã bạc triệu, gia đình huynh ấy vốn không ở Đan Ngọc, chỉ thỉnh thoảng mới đến đây, gần đây vừa hay có việc phải làm ở Đan Ngọc, nên ta đã nhờ huynh ấy ở lại thêm mấy ngày.”
Triệu Cách thực sự khó tưởng tượng nổi một nữ tử như nàng lại có thể lăn lộn ở những nơi thế này, thậm chí còn kết nghĩa huynh muội với ông chủ sòng bạc, hắn tò mò hỏi: “Chu cô nương quen biết hắn thế nào?”
Chu Hạnh cười: “Nghĩa huynh của ta mắc một căn bệnh khó chữa, mà ta lại vừa hay quen ‘Quỷ Y Thánh Thủ’, Ngỗi lão tiên sinh ở ngoại thành, nên đã bán cho ông ấy một ân tình, nhờ ông ấy chữa bệnh cho nghĩa huynh.”
Triệu Cách thuận miệng hỏi: “Bệnh gì?”
Chu Hạnh suy nghĩ một lát, rồi làm động tác “héo rũ”, uyển chuyển nói: “Chính là căn bệnh mềm nhũn, bất lực của đàn ông.”
Mấy người đàn ông đi phía sau đồng loạt im lặng, chỉ có Lữ Hồng phát ra tiếng hắng giọng khụ khụ, do dự mãi rồi vẫn không nhịn được hỏi: “Chữa khỏi chưa?”
“Có chữa khỏi hay không, Lữ đại nhân phải đi hỏi nghĩa huynh của ta chứ, sao ta biết được?” trong lúc nói chuyện, đoàn người đã đi đến trước cửa nhã gian, Chu Hạnh đưa tay đẩy cửa, nhiệt tình gọi: “Nghĩa huynh, để huynh đợi lâu rồi!”
Nhã gian trên tầng hai sạch sẽ, ngăn nắp hơn tầng một rất nhiều, trong phòng đốt hương, than lửa cháy rực, một vị công tử trẻ tuổi đang ngồi chờ, hắn đội ngọc quan, khoác cẩm y. Thấy mọi người bước vào, hắn đứng dậy, trước tiên rút ra một chiếc quạt xếp, “xoạt” một tiếng mở ra, rồi cất tiếng cười sang sảng, dáng vẻ ấy quả thực phong lưu tiêu sái, tuấn tú bất phàm.
Mọi người đứng ở cửa, chẳng hẹn mà cùng hạ mắt nhìn xuống, trên mặt thấp thoáng vẻ thương cảm khó nói thành lời. Nụ cười niềm nở dùng để đón khách của Tiêu Thiệp Xuyên suýt chút nữa cứng đờ.
Tiêu Thiệp Xuyên nhiệt tình mời mọi người ngồi xuống, sai người pha trà ngon. Nhìn thấy Chu Hạnh, hắn vô cùng vui mừng, kéo cánh tay nàng xoay một vòng, đánh giá từ trên xuống dưới, còn trách nàng ăn mặc chẳng khác nào ăn mày lang thang ngoài đường, hắn nói mình vừa mới kiếm được mấy xấp vải đẹp, nhất định phải may cho nàng vài bộ quần áo mới. Sau khi hàn huyên vài câu, hắn lại lần lượt giới thiệu tên tuổi với mấy người, nói chuyện phiếm hồi lâu rồi mới đi vào chuyện chính.
“Người các vị muốn tìm, ta đã điều tra rõ rồi, hắn tên là Trâu Nghiệp, không phải người Đan Ngọc, hai năm trước mới đến đây, bình thường chẳng làm việc gì, là một tên lười biếng ăn không ngồi rồi, suốt ngày tụ tập với một đám bạn xấu, ăn uống, chơi gái, cờ bạc.”
Tiêu Thiệp Xuyên điều tra vô cùng kỹ lưỡng, hắn nói giọng của Trâu Nghiệp pha tạp, không ai biết quê quán tổ tiên của hắn ở đâu, cũng không rõ vì nguyên do gì mà hắn đến Đan Ngọc, hai năm trước, hắn đem lòng si mê một kỹ nữ tên Hương Nguyệt trong thanh lâu. Nhưng sau đó cô nương này bị Hứa Phụng nạp về làm thiếp, vậy mà tình cảm giữa hai người vẫn chưa dứt, nhiều lần lén lút gặp gỡ, tư thông. Trâu Nghiệp còn dương dương tự đắc vì chuyện mình đã hái được “quả hồng hạnh vượt tường” của nhà Hứa tri huyện, trước đây, lúc uống say trên bàn rượu, hắn từng đem chuyện này ra khoe khoang.
Lần gần nhất hắn đến sòng bạc là ba ngày trước, cùng mấy người thường ngày hay tụ tập đánh bạc mở một ván, tiền cược cũng không nhỏ. Hắn thua cả ngày, càng đánh càng đỏ mắt, cứ nghĩ phải gỡ lại được tiền, trong suốt khoảng thời gian đó, ăn uống đều ở ngay trong sòng bạc, chưa từng rời đi, mãi đến tận nửa đêm về sáng, thua sạch tiền mới rời khỏi đó, sau đó hắn không hề quay lại sòng bạc nữa, năm con bạc cùng bàn đều có thể làm chứng cho hắn.
Phùng Tông nghe vậy, âm thầm may mắn vì hôm qua lúc báo cáo mình không khẳng định chắc chắn người này là hung thủ. Ba ngày trước chính là ngày Hứa Phụng bị sát hại, nếu Trâu Nghiệp đã đánh bạc suốt cả ngày ở sòng bạc thì hắn không có thời gian để đi giết Hứa Phụng, mặc dù hiện giờ tung tích của hắn không rõ, chẳng biết đã đi đâu, nhưng xem ra hắn cũng không liên quan nhiều đến vụ án mạng này nữa.
“Oa.” Chu Hạnh thốt lên đầy kinh ngạc, không biết nàng đang ăn thứ gì, hai má hơi phồng lên, nhai răng rắc, miệng vẫn còn đầy thức ăn nên nói không rõ: “Hứa đại nhân quả nhiên đã nuôi một cành hồng hạnh vượt tường ngay trong hậu viện.”
Lữ Hồng từng đội chiếc mũ xanh y hệt như vậy, lúc này nghe nói hậu viện của Hứa Phụng bị người khác ghé thăm, không khỏi lấy bụng ta suy ra bụng người, trong đầu như bốc lửa, tức giận nói: “Vương gia, kẻ này thật to gan lớn mật! Chi bằng bắt hắn cùng ả tiểu thiếp kia về, trị tội gian dâm.”
Triệu Cách lại không đồng tình, nhướng mày nói: “Nhưng Trâu Nghiệp và kỹ nữ kia vốn đã yêu nhau trước, sau đó mới bị Hứa tri huyện nạp về nhà, hai người vốn là một đôi uyên ương bị cưỡng ép chia lìa, tình cũ chưa dứt cũng là chuyện có thể hiểu được.”
Phùng Tông nghe vậy giật mình, vội liếc nhìn sắc mặt Lĩnh Vương, thầm nghĩ Triệu đại nhân này cũng thật chẳng biết nhìn sắc mặt người khác, chẳng lẽ hắn không nhận ra mỗi khi vương gia nghe có người nói xấu Hứa Phụng là sẽ nổi giận hay sao? Vậy mà còn nói những lời này, rốt cuộc là có ý gì? Ông đang định lên tiếng chuyển chủ đề thì nghe Chu Hạnh kinh ngạc nói: “Triệu đại nhân nói chí phải!”
Tiêu Thiệp Xuyên lại không đồng tình, cũng tham gia vào cuộc tranh luận: “Triệu đại nhân nói vậy là không đúng, nếu Trâu Nghiệp thực sự yêu nữ tử ấy, tại sao không sớm bỏ tiền chuộc thân cho nàng? Ta lại thấy người này chưa chắc có tình cảm thật lòng, chẳng qua là đặc biệt thích thú với cái trò vụng trộm với nữ nhân có chồng mà thôi.”
Chu Hạnh lại nói: “Nghĩa huynh nói cũng có lý.”
Triệu Cách hôm nay đi một vòng dò hỏi, giờ đây rõ ràng đã cảm thấy Hứa tri huyện chẳng phải hạng người tốt đẹp gì: “Không chừng hắn đang định chuộc thân cho nàng ta, thì Hứa tri huyện lại cưỡng ép nạp nàng về nhà.”
Chu Hạnh gật đầu: “Cũng có khả năng đó.”
Tiêu Thiệp Xuyên lại nhắc đến một chuyện khác để làm bằng chứng: “Không chỉ vụng trộm với người trong hậu viện của Hứa tri huyện, hắn còn qua lại với những nữ nhân đã có chồng khác.”
Chu Hạnh đúng kiểu gió chiều nào theo chiều ấy, lập tức phụ họa: “Đáng ghét thật! Phải trị tội ‘gian dâm’ mới được.”
Triệu Cách nhất thời nghẹn lời, đành quay sang cầu cứu vị mưu sĩ của mình: “Chước Quang huynh thấy thế nào?”
Từ lúc bước vào, Lục Chước Quang vẫn chưa nói câu nào, hắn ngồi ngay ngắn, dáng vẻ nho nhã, cứ chăm chú nhìn chiếc quạt xếp đang được Tiêu Thiệp Xuyên nhẹ nhàng phe phẩy trong tay, bị Triệu Cách gọi đích danh, hắn lại không trả lời câu hỏi mà hỏi: “Chữ trên chiếc quạt của Tiêu huynh là do ai viết vậy?”
Chu Hạnh cũng quay đầu nhìn, chiếc quạt xếp ấy vốn chẳng có gì đặc biệt, chỉ là trên đó có đề chữ, mặt trước viết “Nhạn quá bạt mao”*, mặt sau viết “Thú tẩu lưu bì”**, Nét chữ phóng khoáng, tiêu sái, rất có phong thái của bậc danh gia. Khóe mắt Chu Hạnh thoáng hiện ý cười: “Huynh thích à?”
(*) Chim nhạn bay qua cũng phải nhổ một cọng lông.
(**) Thú chạy đi cũng phải để lại bộ da.
Lục Chước Quang đáp: “Gần đây tại hạ khá hứng thú với luyện thư pháp, nhìn thấy chữ trên quạt viết rất đẹp, không biết là xuất từ tay vị đại sư nào?”
Tiêu Thiệp Xuyên chẳng mấy để tâm, phe phẩy chiếc quạt: “Mua đại bên đường thôi, không phải thư pháp của danh gia gì đâu.”
Lục Chước Quang khẽ động hàng mày, thoáng lộ vẻ tiếc nuối, nhưng không hỏi thêm. Những người khác vẫn tiếp tục tranh luận sôi nổi về chuyện “gian dâm” và “đôi uyên ương bị chia lìa”, Phùng Tông mấy lần định lên tiếng chuyển chủ đề nhưng đều không thành công.
Nhân lúc trong phòng đang tranh luận náo nhiệt, Chu Hạnh lặng lẽ đi đến bên cạnh Lục Chước Quang, nàng hơi cúi người, ghé sát tai hắn, nhỏ giọng nói: “Ta đã xin nghĩa huynh chiếc quạt này để tặng cho huynh.”
Lục Chước Quang khẽ nghiêng đầu, tránh hơi thở phả tới khi Chu Hạnh ghé lại gần, lịch sự từ chối: “Chu cô nương nói đùa rồi, Lục mỗ sao có thể đoạt thứ người khác yêu thích được.”
“Nghĩa huynh có rất nhiều đồ sưu tầm, thường xuyên tặng cho bạn bè, Lục tú tài lại là người có tài có tình, chắc hẳn nghĩa huynh cũng rất vui lòng kết giao với huynh.”
Lục Chước Quang vẫn giữ vẻ nho nhã, lễ độ nói: “Lục mỗ kết giao bạn bè không màng vật chất, có thể cùng ngồi một chỗ, chuyện trò vui vẻ, vậy đã là bạn bè rồi.”
Chu Hạnh không ép buộc, trong mắt tràn đầy vẻ thưởng thức: “Lục tú tài quả nhiên là quân tử.”
Bên kia, mấy người vẫn đang tranh luận, theo lẽ thường, sau khi nghe người khác nói những lời xúc phạm đến lão sư của mình, Tề Huyên hẳn phải nổi giận, kích động phát tác một phen. Nhưng Triệu Cách đã nói không ít lời kiểu như “Hứa tri huyện nhân lúc người ta gặp khó mà chen chân, chia rẽ nhân duyên của người khác”, vậy mà Tề Huyên lại chẳng hề có phản ứng gì.
Phùng Tông không khỏi hỏi: “Vương gia đang nghĩ gì vậy?”
Tề Huyên liếc ông ta một cái, trầm ngâm nói: “Tiền cược không nhỏ, hắn lại thua suốt cả ngày, nếu bình thường chẳng làm việc gì, vậy tiền đâu ra mà đánh bạc?”
Tai của Tiêu Thiệp Xuyên lại rất thính, bên kia hắn vẫn đang tham gia tranh luận, nhưng bên này đã nghe thấy lời Tề Huyên, lập tức “ồ” một tiếng rồi nói với Tề Huyên: “Vương gia hỏi đúng trọng tâm rồi, Trâu Nghiệp đến Đan Ngọc chưa từng làm việc một ngày nào. Theo lý mà nói, đáng lẽ hắn phải sớm rơi vào cảnh nghèo túng, chết đói ngoài đường mới đúng. Thế nhưng hắn lại thường xuyên lui tới những nơi đốt tiền như nước, ra tay cũng vô cùng hào phóng. Nghe người khác kể, có lần hắn đến sòng bạc, túi tiền căng phồng…”
Hắn bỗng hạ thấp giọng, chậm rãi nói: “Bên trong toàn là vàng.”
Căn phòng lập tức trở nên im phăng phắc, sắc mặt mọi người đều thay đổi, không giấu nổi vẻ kinh ngạc và nghi hoặc. Triệu Cách nhíu mày, nghiền ngẫm hai chữ ấy nơi đầu môi, thấp giọng lặp lại: “Vàng?”
Những năm gần đây, biên cương Đại Tề chiến sự liên miên, quan phủ nhiều lần thu gom vàng trong dân để bổ sung quốc khố, vì vậy, trong dân gian đồng tiền và bạc tuy khá phổ biến, nhưng vàng thì hầu như không bao giờ xuất hiện trong tay dân thường, cho dù là những thương nhân giàu có cũng rất ít khi dùng vàng để giao dịch.
Tề Huyên bỗng đứng bật dậy, lập tức gọi nha dịch đang chờ ngoài cửa, hạ lệnh bắt Trâu Nghiệp, đồng thời cẩn thận lục soát chỗ ở của hắn.
Khoảng nửa canh giờ sau, mấy người rời khỏi sòng bạc, Chu Hạnh cảm ơn Tiêu Thiệp Xuyên, đang định quay người rời đi thì nhìn thấy Lữ Hồng đứng ở góc rẽ, nhăn nhó lén lút, trông như muốn cố hết sức trốn đi, nhưng thân hình béo phì khiến hắn chẳng thể nào giấu nổi.
Chu Hạnh rất tinh ý, giả vờ như không nhìn thấy, nhanh chóng bỏ đi.
Sau đó Lữ Hồng mới chui ra, kéo Tiêu Thiệp Xuyên lại, ông ngó trái ngó phải một lúc, rồi hạ giọng the thé, nhỏ tiếng hỏi: “Tiêu huynh, nghe nói trước đây huynh có chút bệnh khó nói. Không giấu gì huynh, ta cũng đã khổ sở vì chuyện này nhiều năm rồi, không biết bệnh của huynh trước kia chữa trị có hiệu quả không?”
Tiêu Thiệp Xuyên: “…” biết ngay mà, ánh mắt của đám người này lúc vừa bước vào cửa quả nhiên không bình thường.
Mùa đông ngày ngắn, buổi chiều tối đến nhanh hơn các mùa khác, sau khi rời khỏi sòng bạc, bầu trời đã phủ kín những áng mây rực rỡ, mặt đất ngập trong ánh chiều đỏ cam. Gió lạnh hiu hắt, người đi đường cũng thưa dần, không biết nhà nào gần đó đang làm tang sự, một nắm tiền giấy bị rải tung ra đường, bay lả tả khắp nơi.
Phùng Tông ngẩng đầu nhìn sắc trời, thấy thời điểm đã vừa đẹp, liền quay sang hỏi Chu Hạnh: “Chuyện hôm qua nhờ cô mời Ngỗi lão thế nào rồi?”
Chu Hạnh đáp: “Đã thu xếp ổn thỏa.”
Lĩnh Vương nghe hai người nói chuyện, hỏi: “Chuyện gì?”
Bộ áo bông màu xanh của Chu Hạnh phản chiếu ánh trời rực rỡ đủ màu, mái tóc đen cùng dải buộc tóc nhẹ nhàng bay trong gió, phía sau nàng là những tờ tiền giấy đang tung bay rơi xuống, khiến nàng càng có vẻ phóng khoáng, bất cần: “Vương gia có biết, trong thành không có ngỗ tác nào chịu khám nghiệm thi thể của Hứa đại nhân không?”
Tề Huyên nhíu mày: “Vì sao?”
Chu Hạnh hạ thấp giọng, thần thần bí bí nói: “Nghe nói đêm trước khi Hứa đại nhân bị hại, người gõ mõ báo giờ từng tận mắt nhìn thấy Hắc Bạch Vô Thường từ trong nhà Hứa đại nhân bay ra, chớp mắt đã biến mất không thấy đâu. Bây giờ trong thành đang đồn rằng, ai dám chạm vào thi thể của Hứa tri huyện thì nhẹ thì vận xui đeo bám, nặng thì e rằng sai dịch âm phủ sẽ tìm đến tận cửa, vì thế chẳng có ngỗ tác nào dám nhận việc này.”
Trên mặt Tề Huyên lúc này tràn đầy vẻ mệt mỏi, nghe những lời đồn kiểu này, hắn cũng chẳng còn sức nổi giận nữa. Hơn nữa hôm nay Chu Hạnh quả thực đã giúp được rất nhiều việc, nên hắn cũng không nỡ lạnh lùng quát mắng nàng, chỉ nói: “Hoang đường hết sức! Bây giờ đưa tất cả ngỗ tác trong thành đến đây, ta muốn xem rốt cuộc là kẻ nào lại tin vào những lời đồn ngu xuẩn như vậy.”
Phùng Tông vội nói: “Vương gia, nơi như Đan Ngọc, tìm khắp cả thành cũng chỉ có hai ngỗ tác, mà đều là loại tự học nghề, chỉ biết chút ít, trình độ chẳng đến đâu*, hoàn toàn không thể đảm đương việc này. Chu Hạnh quen một vị đạo y, có thể chữa bệnh cho người sống, xem xương người chết, bản lĩnh chắc chắn hơn hai vị ngỗ tác nửa mùa kia nhiều, hôm qua hạ quan đã nhờ nàng mời người ấy đến để khám nghiệm thi thể Hứa tri huyện.”
“Người nào?”
Chu Hạnh đáp: “Chính là ‘Quỷ Y Thánh Thủ’ Ngỗi Cốc Vũ, ông ấy sống ở y đường ngoài thành, chỉ khám bệnh hoặc làm việc vào ban đêm. Ta đã hẹn giờ với ông ấy rồi, lúc này vừa hay có thể đi đón ông ấy.”
(*)二把刀 (nhị bả đao): cách nói khẩu ngữ chỉ người biết nghề nhưng tay nghề non, trình độ nửa mùa, không thực sự giỏi.
Khám phá thêm từ VIVIAN THÍCH ĂN DÂU TÂY
Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.
