Tác giả: Sơn Chi Tử
Âm Ty quanh năm u ám, không phân biệt ngày hay đêm, Nghiêu Vũ tiễn hết những nữ quỷ trên cầu Nại Hà, lại vâng mệnh đưa ba người Trình Tịnh Trúc trả về dương gian, lúc này ánh sáng ban mai nơi dương gian hé rọi, chính là giờ khắc bình minh.
Cuối thu sương đêm nặng hạt, long lanh thấm áo, Nghiêu Vũ ngoái nhìn con đường xa chìm trong làn sương mờ, rồi quay mặt lại, nói với ba người: “Nghe nói các người muốn đến nước Ung Ninh, nơi này chính là biên giới nước Ung Ninh rồi.”
Rõ ràng hai ngày trước còn ở Vạn Diễm Sơn, Sào Châu của nước Kỳ Trạch, vậy mà vừa ra khỏi Âm Ty, đã ở ngay biên giới nước Ung Ninh, A Hằng đưa mắt nhìn con đường rộng lớn mờ trong sương sớm, ánh bình minh càng thêm rực rỡ, nhưng sắc màu trong mấy nàng lại như phai nhạt đi hết.
“Cảm ơn.”
Trình Tịnh Trúc gật đầu.
Nghiêu Vũ cầm trong tay bút ngọc, tàn hồn của nàng đang được pháp khí này dưỡng nuôi, dần dần bổ khuyết, bóng dáng cũng không còn mờ nhạt, giờ khắc này, nàng chăm chú nhìn thiếu niên trước mặt, khẽ hành lễ:“Trình công tử, là Nghiêu Vũ phải cảm tạ các người, ngày đó ở Vạn Diễm Sơn, cảm ơn các người tương trợ.”
Nói rồi, ánh mắt Nghiêu Vũ dừng lại một thoáng trên mặt Trình Tịnh Trúc, lại nhìn sang A Hằng đứng bên cạnh hắn, A Hằng vẫn mặc áo choàng đen rộng thùng thình, vạt áo trong gió sớm quét qua mắt cá chân, búi tóc đen nhánh chỉ cài một cây trâm gỗ cháy sẫm, trên đó nở đỏ một đóa sơn trà, vài sợi tóc xoăn nhạt theo gió lướt qua má nàng.
Nghiêu Vũ vừa định nói gì đó, đã thấy A Hằng đưa cho nàng một vật, sau đó, nàng nghe thấy A Hằng nói: “Trả lại ngươi.”
“Ta chẳng phải đã tặng cô rồi sao?”
Nghiêu Vũ nhìn nàng, nói.
A Hằng kẹp lấy cây phượng lệch ba đuôi, tua rua khẽ lay động, nhẹ quét qua mu bàn tay nàng: “Tuyền Hồng nói, đây là của hồi môn của ngươi.”
Nghe vậy, Nghiêu Vũ khẽ sững người, ánh mắt dịu dàng nhìn nàng, mỉm cười: “Cô có hiểu của hồi môn là gì không?”
“Không hiểu lắm.”
Giữa mày mắt A Hằng toát lên vẻ ngây thơ, thẳng thắn: “Nhưng hình như nó rất quan trọng với ngươi, đúng không?”
“Thực ra cũng chẳng quan trọng đến vậy.”
Nghiêu Vũ giơ tay, nhưng không chạm vào cây phượng lệch kia, chỉ khẽ vỗ mu bàn tay A Hằng: “Quan trọng là ký ức, là con người, chứ không phải món đồ này, thế gian chẳng có yến tiệc nào không tàn, tiệc của ta sớm đã tan, ta chẳng cần nó làm ký thác nữa.”
A Hằng nghe không hiểu gì yến tiệc tan hợp, nhưng Nghiêu Vũ cũng không giải thích gì thêm, nàng chỉ nhìn vòng ngọc trên cổ tay A Hằng, nói: “Cô nương A Hằng, ta tin rằng rồi sẽ có một ngày cô hiểu được, còn nữa, mong rằng cô sẽ yêu thế giới này.”
Lời chúc chan chứa tình ý của Nghiêu Vũ, khiến A Hằng nghe vậy thoáng ngẩn người.
Ngay lúc đó, Nghiêu Vũ rõ ràng cảm nhận được có ánh mắt dừng lại trên người mình, nàng quay lại, bắt gặp ánh nhìn của Trình Tịnh Trúc, trên đôi môi nhợt nhạt của hắn có một vết thương nhỏ, đã kết vảy máu đỏ, hắn không nói một lời, còn Nghiêu Vũ lại cất lời: “Trình công tử, Diêm Vương có lệnh, bảo ta chuyển lời đến công tử, dù Âm Ty không hỏi, cũng chẳng dám không tâu lên trời, người nói, ngài hẳn là người rõ nhất ý nghĩa của việc chém lại hỗn độn, tái tạo tam giới.”
Lời này của Nghiêu Vũ quá mơ hồ, khiến Lâm Nương hoàn toàn mờ mịt, còn A Hằng thì quay sang nhìn Trình Tịnh Trúc bên cạnh, trong làn sương lạnh buổi sớm, hắn khẽ rủ mi mắt, sắc mặt khó đoán, A Hằng không nhịn được đưa ánh mắt dừng trên đôi môi hắn, nhớ lại bóng hoa ngợp trời, mưa hoa rơi dày nhưng hương hoa cũng chẳng đậm bằng mùi hương hoa Vô Cốt kia, thế nên nàng càng dễ nhận ra hương thuốc thoang thoảng trên người hắn.
Hắn dường như không định trả lại cho nàng.
Bởi thế khi cả người hắn khẽ cứng đờ, rất nhanh hắn đã như kẻ nắm trúng bảy tấc của con rắn, một phen siết chặt lấy cổ nàng, ánh mắt lạnh lẽo như mũi nhọn cắm vào thân xác của nàng, hiểm nguy cực điểm rít gào bên tai A Hằng không ngừng, nhưng trong ngực nàng lại bùng lên một ham muốn phá huỷ kỳ lạ, vào khoảnh khắc đôi môi rời nhau, nàng lại lập tức đuổi theo cắn lấy bờ môi hắn.
Mặc cho hắn khống chế nơi yết hầu yếu ớt của mình.
Nàng cắn rách môi dưới của hắn, máu đỏ tươi lập tức tràn ra, A Hằng trong mùi nguy hiểm như muốn huỷ diệt cả thân xác, lại chìm đắm trong hương máu ngọt ngào của hắn.
Dù cổ họng bị tay hắn khống chế, A Hằng vẫn ngẩng mặt, môi còn vương máu của hắn, đôi mắt sáng long lanh: “Ta nghe Mạnh Bà nói, muốn tạo nên thân xác này của ta rất khó, tiểu thần tiên, huynh cẩn thận một chút.”
“Cáo từ.”
Giọng Trình Tịnh Trúc vang lên, A Hằng hoàn hồn, thấy hắn gật đầu với Nghiêu Vũ, coi như từ biệt, rồi quay người đi thẳng.
Gió sớm se lạnh, thổi bay tà áo trắng tinh mỏng manh của thiếu niên, sau lưng hắn, chuỗi bối vân trong suốt theo đường sống lưng rủ xuống, lấp lánh ánh sáng trong mắt A Hằng, A Hằng vội vã đuổi theo: “Tiểu thần tiên, chờ ta với.”
Lâm Nương quay sang nói với Nghiêu Vũ: “Quốc… không, phán quan Nghiêu Vũ, một ngày nào đó, ta cũng sẽ đắc đạo giống như cô.”
Nghiêu Vũ nghe vậy, nàng nhìn cô nương trẻ trước mặt, ý cười dịu dàng trong đáy mắt: “Triệu cô nương, cô nhất định sẽ, ta mong chờ ngày ấy.”
Lâm Nương cười, quay đầu thấy bóng dáng A Hằng và Trình Tịnh Trúc đã dần xa, nàng vội nói với Nghiêu Vũ: “Phán quan Nghiêu Vũ, ta đi đây!”
Lâm Nương vội vã đuổi theo A Hằng.
Nắng sớm cuối thu chẳng thể hong khô sương núi, Nghiêu Vũ đứng tại chỗ, nhìn cô nương trẻ khoác áo choàng vai mây bằng ngọc trai nhanh bước chạy về phía thiếu nữ áo đen, kéo lấy tay nàng, như oán giận: “A Hằng, cô cũng chờ ta với.”
Sương núi mịt mờ, cỏ úa ngổn ngang, A Hằng liếc sang Lâm Nương đang níu cánh tay mình, rồi quay đầu, chí thấy trong khói sương mờ ảo, núi rừng bát ngát, bóng Nghiêu Vũ đã biến mất.
Ngoảnh lại lần nữa, bóng thiếu niên áo trắng rõ ràng bước rất chậm, nhưng bóng dáng lại nhanh chóng mờ đi trong sương núi, A Hằng bước đi như bay, kéo theo Lâm Nương, đi ngang qua một bia đá, quanh đó cỏ dại mọc um tùm, A Hằng bỗng dừng lại.
“A Hằng?”
Lâm Nương nghi hoặc gọi nàng.
A Hằng lại hoàn toàn không có tâm tư đáp lại nàng, giờ phút này, nàng rõ ràng cảm nhận được trong lồng ngực có gì đó đang nhảy lên, như một ngọn lửa nóng bỏng, cháy hừng hực.
Đôi mắt A Hằng thoáng ánh đỏ.
Nàng chậm rãi quay đầu, nhìn tấm bia đá sừng sững bên đường.
Tấm bia đá cao lớn, trên bia đao tạc rìu khắc, khắc mấy chữ lớn, A Hằng hỏi Lâm Nương đứng bên cạnh: “Trên đó viết gì vậy?”
“Nước Ung Ninh.”
Lâm Nương đọc lên, nói: “Chắc đây chính là giới bia nước Ung Ninh.”
Nước Ung Ninh.
A Hằng quay đầu, xa xa ánh mặt trời vàng rực hoà cùng sương núi, thiếu niên kia dường như dừng bước ở đó, ánh sáng chói loà khiến A Hằng không nhìn rõ hắn, nhưng lại cảm nhận được ánh mắt hắn.
Mạnh bà từng nói, đống rối rắm kia là ở nước Ung Ninh.
Mồi lửa thứ hai, cũng ở nước Ung Ninh.
A Hằng không thèm liếc lại giới bia kia, kéo Lâm Nương chạy tới, đến trước mặt thiếu niên, lông mi nàng cong cong, ánh mắt lấp lánh, hắn liếc về giới bia xa xa: “Sao thế?”
“Không có gì cả.”
A Hằng chớp mắt.
Trình Tịnh Trúc nghe vậy, ánh mắt trở lại trên khuôn mặt vô tội của nàng.
Chỉ là một cái nhìn hờ hững.
Nhưng A Hằng lại cảm thấy trong ngực ngọn lửa vô duyên vô cớ nhảy lên vài nhịp, nàng lặng lẽ nhịn xuống, không hề có ý định ngoan ngoãn nói cho hắn biết chỗ dừng chân của mồi lửa.
Đó là thứ nàng đã để mắt tới.
“Đi thôi.”
Trình Tịnh Trúc bỏ lại một câu, liền quay người đi thẳng.
Bành Châu nằm giữa vùng trung tâm của nước Ung Ninh, nếu đi bằng sức người, cho dù có ngựa tốt, từ biên giới đến Bành Châu cũng phải mất mười ngày trở lên, thế nhưng A hằng cùng bọn họ chỉ mất hai ba ngày đã tới Bành Châu.
Nước Ung Ninh nằm yên ổn ở phương nam, khác hẳn với nước Kỳ Trạch, nhà của ở Bành Châu đều tường trắng mái ngói đen, trong thành ngõ ngách dọc ngang, kênh rạch chằng chịt, hôm nay trời mưa bụi, khung cảnh mờ mịt như phủ trong làn khói sóng.
A Hằng nhận ra từ lúc vào thành, Lâm Nương cứ cúi đầu lặng thinh, vành ô che xuống thấy đến mức gần như che khuất cả đường đi trước mặt, Lâm Nương chẳng nhận ra, suýt nữa va vào người ta, A Hằng vội kéo nàng qua, lại thấy phản ứng đầu tiên của nàng là dùng cổ áo khoác để che mặt.
Hệt như Tình Vân, như những nữ quỷ kia, khi nội đan của Nghiêu Vũ bị thiên lôi mà thước vàng dẫn xuống đánh nát, gương mặt xinh đẹp của họ bị xé bỏ trong khoảnh khắc, sắc mặt họ cũng giống hệt với Lâm Nương lúc này.
Mưa bụi lướt nhẹ qua vành ô, A Hằng nhìn Lâm Nương, bất chợt hỏi: “Cô rất để tâm người ta nhìn cô sao? Vì sao vậy?”
“Không,” ở nơi đông người, Lâm Nương như con thú nhỏ nhút nhát, nàng không ngừng vén tóc mái, che đi lớp vảy bạc nơi trán, “ta, ta thế này, rất xấu xí… hơn nữa, họ nhìn thấy ta thế này sẽ sợ hãi.”
Giọng nàng càng lúc càng nhỏ, bao lấy nỗi bất an nhạy cảm, đầu cúi càng thấp, bất ngờ, một ngón tay đặt ngay giữa chân mày nàng, Lâm Nương sững lại, cảm nhận được lực ép của ngón tay kia, buộc nàng phải ngẩng đầu lên, dưới tán ô mờ tối, A Hằng khẽ rũ mắt hờ hững nhìn những vảy bạc lấm tấm trên trán nàng, nói: “Họ sợ thì có sao?”
Lâm Nương mím môi, nàng biết A Hằng là yêu tà, mà yêu tà, vốn chẳng hiểu nhiều cảm xúc của loài người, con người biết xấu hổ, nàng thì không, con người biết tự ti, nàng chẳng hiểu, nàng không thể hiểu thấu được tâm tình từ một người biến thành quỷ, thành một quỷ nước.
Lâm Nương nghĩ đến đây, không khỏi hoài nghi, một kẻ chẳng hiểu gì như A Hằng… có thật sự hiểu thế nào là thích chăng?
“Ta thấy không phải họ sợ cô, mà là cô sợ họ.”
Một chiếc ô giấy che lên cả hai, Lâm Nương nghe thấy A Hằng chậm rãi nói, rồi nàng cảm thấy đầu ngón tay lạnh buốt của A Hằng vẽ vòng quanh trên trán mình, hơi nóng thoáng qua rồi tản đi.
A Hằng thu tay lại, Lâm Nương tinh mắt phát hiện vệt mây đỏ tan đi giữa ngón tay nàng, Lâm Nương vội vàng đưa tay sờ trán mình, chỉ thấy một mảnh trơn nhẵn, nàng luống cuống lấy gương nhỏ trong ngực ra soi, soi thấy trán trong gương đã sạch sẽ, chẳng còn chút dấu vảy nào, nàng không thể tin nổi mà ngước nhìn A Hằng: “A Hằng…”
“Chỉ là tạm thời che lại thôi.”
A Hằng đứng dưới ô, khoanh tay: “Bảy ngày sau sẽ mất hiệu lực.”
Nhưng Lâm Nương nhìn nàng, đã rưng rưng nước mắt, rồi đột ngột dang tay ôm chặt lấy nàng: “A Hằng!”
Trình Tịnh Trúc một mình cầm ô đi trước, nghe thấy tiếng gọi rõ to của Lâm Nương, hắn dừng chân quay đầu, chỉ thấy chiếc ô giấy đơn sơ xiêu vẹo nghiêng đi, Lâm Nương ôm chặt lấy cả người A Hằng, cười rạng rỡ.
Mưa bụi rơi lất phất, bao người đi đường đều chú ý tới hai nữ tử dung mạo xinh đẹp kia, những chiếc ô đủ màu sắc lướt qua bên cạnh họ, A Hằng nhấn nhấn đầu Lâm Nương, có chút mất kiên nhẫn: “Buông ra.”
“A Hằng, áo trên người cô rách rồi,” Lâm Nương bỏ mặc cả ô, thậm chí gạt tóc mái sang bên, vui vẻ nắm chặt lấy tay A Hằng, “để ta mua kim chỉ khâu lại cho cô nhé!”
Chiếc váy đỏ trên người A Hằng vốn do mẹ Lâm Nương, Lâm thị may trước khi qua đời, khi ở Âm Ty đánh nhau, chẳng biết vì sao A Hằng đã làm rách gấu váy, từ lâu nàng đã vì thế mà không vui, lúc này nghe thấy Lâm Nương nói như vậy, nàng chỉ “ồ” một tiếng, đưa tay sờ đai lưng.
“Cô nương A Hằng.” trong tiếng mưa rả rích, giọng thiếu niên vang lên.
Gần như cùng lúc đó, Lâm Nương giữ chặt tay A Hằng, mở to mắt, cố phần sụp đổ: “Không phải ngay bây giờ đâu mà!”
A Hằng rõ ràng là cố ý trêu chọc Lâm Nương, nàng bật cười, rồi quay mặt đi, nhìn thiếu niên cầm ô đứng đó không xa, mưa thu mờ mịt, gương mặt hắn dường như có chút lạnh, Lâm Nương kéo nàng bước đến chỗ Trình Tịnh Trúc, lại khẽ dặn dò: “Đây là đường lớn, nhiều người lắm, cô tuyệt đối không được cởi áo đó!”
Trình Tịnh Trúc đi vào ngồi trong một quán trà bên đường, Lâm Nương kéo A Hằng ngồi xuống theo, chủ quán vội vàng dâng lên mấy chén trà nóng.
Trong khi Lâm Nương không ngừng soi gương nhỏ, ngắm nghía trán mình, trên bàn lại chẳng ai nói chuyện, A Hằng chống cằm, nàng chán chường nhìn chằm chằm Trình Tịnh Trúc ngồi đối diện.
Lúc này trong mắt A Hằng chẳng thấy màu sắc gì, nhưng nàng nhớ rõ quần áo màu đen trên người hắn khi ấy là màu xanh đen, là màu hơi thiên về sắc đen, nhưng lại hơi ánh lục tím, vô cùng đẹp mắt.
Trong ngoài áo giao nhau hai màu trắng đen, mái tóc bạc xám của hắn buộc thành búi tóc chỉnh tề, nửa còn lại xõa sau lưng, trên dải buộc tóc đồng màu áo có gắn ngọc thạch, một lọn rơi khẽ xuống bờ vai hắn.
A Hằng nhìn chằm chằm vào môi hắn, nơi ấy dường như chỉ còn lại một vết mờ nhạt.
Từ sau ngày ấy, hắn hình như càng trở nên ít lời, dù đôi khi hắn có nhìn về phía nàng, ánh mắt cũng chỉ là hờ hững liếc thoáng qua, nhạt nhòa, A Hằng không biết phải diễn tả cảm giác ấy thế nào.
Tựa như trước đây, nàng vẫn nghĩ giữa mình và hắn, khoảng cách là lớp băng dày trên sông Hắc Thủy, là khoảng cách giữa mặt sông và bầu trời, mà loại khoảng cách ấy dù xa xăm, nhưng vẫn có thể nhìn thấy một lần.
Thế nhưng bây giờ, sự xa cách của hắn lại giống như bức tường thành cao ngất đủ để chắn hết tầm nhìn của nàng, chẳng những không cho phép nàng đến gần, còn không cho phép nàng nhìn trộm.
Mà A Hằng thì rất ghét cảm giác đó.
Như ngay lúc này, nàng chăm chú nhìn hắn không rời, còn hắn thì dường như chẳng hay biết, chỉ khẽ cúi mi, nâng chén trà lên uống.
Đột nhiên A Hằng đứng bật dậy, khiến chiếc ghế dài bật nghiêng một đầu, Lâm Nương ngồi đầu kia liền ngã ngồi xuống đất, tay nàng túm lấy góc bàn, ngẩng đầu thì thấy A Hằng đã bước tới, ngồi sát bên cạnh Trình Tịnh Trúc.
“…”
Lâm Nương bò dậy, một lần nữa chỉnh lại ghế.
Trình Tịnh Trúc khựng lại tay cầm chén trà, nói: “Ngồi về chỗ cũ.”
“Ta không.”
A Hằng lại càng ghé sát vào hắn, khoảng cách gần đến mức, A Hằng thấy rõ hàng mày hắn hơi nhíu lại, sau đó, hàng mi dài rậm của hắn khẽ nâng, đôi mắt tĩnh lặng liếc sang nàng.
A Hằng lại nhìn viên bảo châu trước ngực hắn, bâng quơ gợi chuyện: “Tiểu thần tiên, còn nhớ không? Huynh còn nợ ta cái gì đó?”
Một chữ “nợ” thốt ra, vẻ mặt Trình Tịnh Trúc càng thêm lạnh lẽo.
Giữa bóng hoa ngày ấy, mọi chuyện cũng khởi đầu từ chữ “nợ” của nàng, ánh mắt A Hằng di chuyển lên, dừng trên khuôn mặt hắn, lại cười: “Ta nói là, ở trấn Dung Thụ của Sào Châu nước Kỳ Trạch, huynh còn nợ ta một chiếc nhẫn ngọc.”
“Cô quả thật không chịu để mình thiệt chút nào.”
Trình Tịnh Trúc liếc nàng, gương mặt trắng bệch mà kiều diễm.
“Đúng vậy.”
A Hằng vẫn mỉm cười.
Trình Tịnh Trúc dường như không muốn để ý đến nàng nữa, hẳn lẳng lặng tháo sợi tơ đỏ trên chuỗi ngọc trong tay, từ giữa gỡ xuống một viên ngọc Hà đặt bên mép bàn trước mặt nàng.
Sợi tơ nàng bện thực sự quá lỏng lẻo, Trình Tịnh Trúc cúi mắt chỉnh lại, chằng bao lâu đã buộc xong.
A Hằng vui mừng khôn xiết mà nâng viên ngọc ấy lên, nàng nhìn thiếu niên bên cạnh vừa chỉnh tràng hạt, vừa nói: “Ngồi lại đi.”
A Hằng không những không ngồi lại, mà còn nhìn chăm chú vào sợi dây trên chuỗi ngọc kia, nàng nhanh chóng lôi từ ngực ra một đoạn tơ đỏ trước đó còn thừa, cúi đầu bện lấy bện để, chẳng mấy chốc đã hoàn thành, nàng lấy cùi chỏ huých huých thiếu niên bên cạnh: “Tiểu thần tiên, huynh xem.”
Trình Tịnh Trúc chau mày, hắn vừa ngẩng mắt liền thấy một ngón tay thon dài trắng nõn chìa ra trước mặt mình, sợi tơ đỏ rực xuyên qua một viên ngọc Hà hồng phấn lấp lánh, vừa khéo đeo ngay nơi gốc ngón tay nàng.
Như một chiếc nhẫn.
Có điều so với ngón tay thon nhỏ của nàng thì viên ngọc Hà ấy lại hơi lớn quá khổ, trông vừa thô kệch vừa buồn cười.
Lâm Nương dường như cũng nghĩ vậy, nhưng thấy A Hằng hứng thú dạt dào, lại nhìn bầu không khí trước mắt, nàng thật sự chẳng dám mở miệng, đành đè nén xuống.
Đúng lúc này, có người đội mưa bước vào quán trà.
“Lão trượng! Mau thêm hai bát trà loãng!”
Đó là một người đàn ông cao to mặc áo vải thô, vừa nói vừa thở hồng hộc.
“Ngươi đi làm công kiếm sức về đó à?”
Ông lão chủ quán vội rót hai bát trà bưng đến trước mặt hắn, người đàn ông nhận lấy một bát, uống ừng ực cả lá trà lẫn nước, rồi lại bưng bát thứ hai trên tay, mới thở ra một hơi mà đáp chủ quán: “Nếu mà đi làm công, thì còn có vài đồng dắt lưng ấy chứ! Ta đây chẳng qua nghe nói nhà họ Tạ lại mời phương sĩ đến, liền chạy tới cửa nhà họ Tạ xem náo nhiệt, ai ngờ chưa kịp thấy trò hay, đã thấy bọn nô bộc nhà họ Tạ đem phương sĩ kia quẳng ra ngoài rồi!”
“Sao cơ? Sao lại quẳng ra ngoài?” ông chủ quán kinh hãi hỏi.
Người đàn ông kia giọng to, khách bàn khác đều nghe rõ, có một ông lão ngoái lại, nói: “Còn phải hỏi sao? Nhất định là phương sĩ kia vô dụng rồi! Mấy ngày nay nhà họ Tạ đã mời biết bao nhiêu hòa thượng đạo sĩ, có ai dùng được đâu? Càng không cần phải nói, trong đó còn có vài kẻ giả mạo bậc đắc đạo, chỉ mong vào ăn chực bữa cơm chay, chắc hôm nay cũng lại là loại đó thôi!”
“Đúng thế! Cái gì mà phương sĩ chứ, chỉ là kẻ ăn mày giả vờ thành bộ dáng cao thâm, vào chưa được bao lâu đã bị lật tẩy, khi bị đuổi ra còn ngã vỡ đầu nữa, ta đứng gần đó, thấy hắn thật sự tội nghiệp, bèn cõng hắn đến y quán.” người đàn ông kia nói.
“Ngươi còn bỏ tiền chữa bệnh cho hắn à?”
Ông lão kia ngạc nhiên.
Người đàn ông lắc đầu: “Ta có mấy đồng đâu mà cho hắn chữa với chạy? Ta vứt hắn ngay cửa y quán, đại phu người ta có cứu hay không thì chẳng dính dáng gì đến ta nữa!”
Trình Tịnh Trúc nghiêng mặt sang, mở miệng: “Không biết mấy vị vừa nói, nhà họ Tạ rốt cuộc đã gặp chuyện gì?”
Ông lão, còn cả người đàn ông kia, thậm chí cả nhóm khách trà trong quán đã sớm chú ý đến thiếu niên dung mạo thoát tục ấy, nhưng mái tóc lại ánh xám bạc, bên cạnh lại còn ngồi cũng hai nữ tử xinh đẹp, nay nghe thấy thiếu niên hỏi chuyện, bọn họ mới dám đường hoàng ngắm kỹ, ông lão phản ứng đầu tiên, nói: “Ba vị hẳn là người ngoài tới? Các vị có điều không biết, nhà Tạ thị lang ở đây có một đôi đường tỷ muội, vài hôm trước, trời giáng xuống hai luồng lưu hỏa, rơi trúng nhà Tạ thị lang, nói rằng đáp ngay trong sân đôi đường tỷ muội, thế mà không tổn hại ngói gạch nào, cứ thế tan biến mất, người ta đều bảo, hai luồng lưu hỏa đó chính là tà vật, bởi vì từ đêm ấy trở đi, đôi đường tỷ muội kia liền hôn mê không tỉnh.”
“Nhà họ Tạ ban đầu mời nhiều danh y, nhưng đại phu đều bó tay, vì vậy nhà họ Tạ mới lại mời tăng đạo, đến hôm nay vẫn chưa có manh mối gì.”
Ngay khi nghe đến “hai luồng lưu hỏa”, A Hằng liền nhạy bén quay đầu lại.
Ban nãy A Hằng không hướng về phía đám trà khách, mọi người chỉ biết nàng là một nữ tử xinh đẹp, nhưng không ngờ nàng lại kiều diễm như thế, lập tức ai nấy đều nín thở.
Người đàn ông kia đến cả bát trà thứ hai cũng quên không uống.
Ngoài quán trà, trong màn mưa lất phất, bỗng vang lên tiếng ồn ào hỗn loạn, A Hằng đưa mắt nhìn ra ngoài quán, chỉ thấy đầu phố mịt mờ mưa bụi, vài thanh niên áo ngắn nâu đang vây quanh một người vội vã tiến đến.
Người nọ thân khoác ào bào xám đậm, sau lưng đeo thanh kiếm vàng khảm ngọc, búi tóc gọn gàng, thắt đai, hắn dung mạo trẻ tuổi, mày mắt sắc bén, hốc mắt hơi sâu, đường nét vô cùng lưu loát, bước đi nhanh tựa sao băng, chẳng mấy chốc đã gần sát quán trà.
Cũng là lúc này, A Hằng trông rõ nốt chu sa đỏ ở giữa chân mày hắn.
Một thanh niên áo ngắn vừa theo sau hắn, vừa nói: “Tiên trưởng, chủ nhân nhà ta nghe nói ngài đến từ cung Tử Tiêu Thượng Thanh, nên đặc biệt ra nghênh đón…”
“Không cần đa lễ, cứu người quan trọng.”
Người nọ mắt chẳng liếc ngang, chẳng hề chú ý đến quán trà bên cạnh, rất nhanh đã đi qua, một đoàn nô bộc áo ngắn theo sát phía sau.
“Vừa rồi ta dường như nghe thấy là cung Tử Tiêu Thượng Thanh?” Lâm Nương ngạc nhiên nhìn sang Trình Tịnh Trúc, “Hơn nữa giữa chân mày người kia cũng có vết giới!”
A Hằng hỏi Lâm Nương: “Vậy cô có ngửi thấy không? Trên người hắn có thanh khí chứ?”
Ban ngày A Hằng cảm quan khiếm khuyết, nàng không phân biệt được.
“Có thì phải.”
Lâm Nương lúc ấy không để ý, nhưng hồi tưởng lại khi người nọ vừa đi ngang qua, nàng đáp: “Trên người hắn mang thanh khí, lại còn rất dễ chịu.”
“Vậy sao?”
A Hằng nghe vậy, bất giác nhìn ra ngoài quán trà, bóng dáng đệ tử cung Tử Tiêu Thượng Thanh kia vẫn còn chưa hoàn toàn khuất hẳn.
Khi ấy một chiếc chén đặt xuống bàn phát ra tiếng khẽ vang, A Hằng và Lâm Nương quay đầu lại, chỉ thấy bên chén trà đã có một mảnh bạc vụn, còn thiếu niên đã đứng dậy, hắn khẽ liếc A Hằng, thần sắc thản nhiên.
Ngực A Hằng lại vô cớ lạnh buốt một cái, chỉ thấy hắn xoay người bước ra khỏi quán trà.
Bóng lưng hắn dần tan vào màn mưa, cao ráo mà lạnh lùng.
A Hằng vẫn ngồi trước bàn, chẳng hiểu sao, Lâm Nương vội kéo nàng bật dậy, chạy theo ra ngoài quán, gọi: “Trình công tử, đi đâu vậy?”
Thiếu niên che ô, chẳng hề ngoái đầu:
“Nhà họ Tạ.”
Khám phá thêm từ VIVIAN THÍCH ĂN DÂU TÂY
Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.
