Chương 148: Bỏ tối theo sáng

Chương 148: Bỏ tối theo sáng

Tác giả: Tiện Ngư Kha

Thành phủ Ninh Ba, sâu trong ngõ Sa Đầu Tỉnh, căn nhà đã lâu không có người ở gần đây lại bắt đầu có bóng người qua lại.

Nơi này vốn là chỗ ở của Dư Triệu Nam, con trai của Dư đại nhân, hữu đô ngự sử của Đô Sát Viện trong kinh, cũng là một Bách hộ, vị công tử từng nổi danh là tay ăn chơi trác táng ở kinh thành ấy, nhiều năm trước bị phụ thân ném đến vùng duyên hải Đông Nam này để rèn giũa tính tình, chỉ được giao một chức Bách hộ hữu danh vô thực. Theo công văn ghi chép, vào năm Gia Tĩnh thứ hai mươi tám, Dư Triệu Nam dẫn thuyền tuần tra trên biển, gặp bộ hải tặc của Trần Tam Phục đột kích, liều chết chiến đấu rồi hy sinh vì nước. Tin tức truyền về kinh sư, người nghe không ai không thở dài thương tiếc, Dư công càng đau đớn vì mất con, chỉ sau một đêm đã bạc trắng mái đầu.

Hiện giờ người chuyển vào căn nhà bỏ không này là một văn sĩ trung niên, chính là Kỷ sư gia từng xuất hiện tại yến Khất Xảo, người bên phủ Dư công. Theo lệnh của chủ nhà, ông đặc biệt đến Ninh Ba phủ để lo liệu âm thọ cho Dư Triệu Nam. Pháp sự liên tục làm suốt bảy ngày, khói hương nghi ngút, tiếng tụng kinh không ngừng, thế nhưng pháp sự đã xong, Kỷ sư gia vẫn chẳng có ý định lên đường trở về.

Phùng Cung Dụng đã âm thầm theo dõi ông mấy ngày nay.

Lúc này, ông ta ẩn mình dưới bóng râm um tùm của cây hòe nơi cuối ngõ, miệng nhai dở nửa chiếc bánh hấp, nhưng ánh mắt vẫn không rời cánh cổng sơn đen đóng chặt kia.

Giữa mùa hè Giang Nam, mặt trời gay gắt, hơi nước bốc lên mờ mịt, mồ hôi nhớp nháp dính vào quần áo. Từ đằng xa vọng lại tiếng rao hàng lúc đứt lúc nối, càng khiến con ngõ sâu hun hút này thêm phần tĩnh mịch.

Những buổi trưa oi ẩm thế này là lúc dễ khiến người ta uể oải nhất, cũng dễ kéo con người ta chìm vào vũng lầy của những chuyện quá khứ nhất.

Phùng Cung Dụng thoáng ngẩn ngơ, tâm trí lại quay về đêm khuya năm Gia Tĩnh thứ hai mươi tám ấy.

Khi đó ông mới theo Tứ Minh Công chưa được bao lâu, tuy ăn mặc đã ra dáng một con người tử tế, nhưng tận trong xương cốt vẫn mang cái kiểu lưu manh đầu đường xó chợ, đứng không ra đứng, ngồi chẳng ra ngồi. Còn Ông Giới Phu, cũng là con nuôicủa Tứ Minh Công, khi ấy đã là đồng tri phủ Ninh Ba, quan bào chỉnh tề, dáng vẻ, cử chỉ đoan chính chẳng khác nào người trên trời. Ông Giới Phu xem thường Phùng Cung Dụng, mà Phùng Cung Dụng cũng chẳng buồn mặt nóng dán mông lạnh với vị nghĩa huynh này, hai người xưa nay nhìn nhau đã chẳng thuận mắt, 

Thế nhưng đêm hôm đó, Phùng Cung Dụng lần đầu tiên nhìn thấy Ông Giới Phu mất hết chừng mực.

Quan hệ giữa Ông Giới Phu và Tứ Minh Công rất ít người ngoài biết, ngày thường ông sẽ không tùy tiện đến thăm, vậy mà đêm ấy, ông lại gấp gáp gõ cửa hậu viện của tiểu viện Tĩnh Quan, mang đến một tin tức kinh người —— Dư Triệu Nam chết rồi.

“Chỉ chết một người thôi mà đã dọa nghĩa huynh thành thế này, sao nào, chẳng lẽ huynh giết?” Phùng Cung Dụng chẳng mảy may để tâm, còn buông lời trêu chọc, nhưng lập tức bị Ông Giới Phu hung hăng trừng mắt.

“Câm miệng! Ngươi thì biết cái gì!” Ông Giới Phu vừa tức vừa hoảng, hoàn toàn mất bình tĩnh: “Đó là con trai duy nhất của Dư ngự sử! Đầu năm Dư công còn gửi thư nhờ ta chiếu cố hắn… Giờ người lại chết trong địa phận ta cai quản, nếu ông ấy nổi giận, chỉ cần dâng một đạo hặc sớ thôi cũng đủ cắt đứt tiền đồ của ta!”

Nguyên nhân sự việc là Dư Triệu Nam uống rượu trong tửu lâu đến tận đêm khuya, sau khi say, hắn cùng đồng đội chơi xúc xắc cá tiền, vì ba văn tiền tiền cược mà xảy ra tranh chấp với kỳ bài quan. Trong lúc xô đẩy, tên công tử ăn chơi tính tình ngang ngược ấy chộp lấy chiếc mâm đồng đựng cá thái sống, nện thẳng vào đối phương, đối phương né tránh, theo phản xạ đưa tay đẩy hắn một cái, phía sau đầu Dư Triệu Nam vừa khéo đập mạnh vào phù điêu bằng đá nhô ra trên lan can, hắn chết ngay tại chỗ.

Chàng thanh niên quỳ trước đầu gối Tứ Minh Công, giọng điệu vừa gấp gáp vừa bất lực: “Thưa cha nuôi, con đã tạm thời ém nhẹm tin tức, tất cả những người có mặt lúc đó đều đã bị bắt giam. Nhưng chuyện chết người lớn như vậy, chắc chắn không thể giấu được lâu… con đang đúng lúc cần thăng tiến, nếu có thể được điều lên tỉnh, chẳng phải cũng là điều cha nuôi mong muốn hay sao? Xin cha nuôi cứu con!”

Sắc mặt Tứ Minh Công nghiêm nghị, trầm ngâm hồi lâu rồi nói:“Người đã chết, tuyệt đối không thể che giấu được nữa, chỉ có thể nghĩ cách làm sao để Du đại nhân nguôi giận.”

“Hay là… đừng để nguyên nhân cái chết của Dư Triệu Nam trở nên khó coi như vậy… Ví dụ như… hy sinh khi đang làm nhiệm vụ?”

Ánh mắt Tứ Minh Công khẽ sáng lên, nhẹ nhàng gật đầu: “Dư Triệu Nam là Bách hộ của Trấn Hải Vệ, mà trên biển lại có một tên hải tặc lớn như Trần Tam Phục…”

“Đúng, đúng! Cứ nói là… gặp Trần Tam Phục đột kích, chiến đấu anh dũng rồi hy sinh. Như vậy, Dư công chẳng những sẽ không trách tội, mà có khi còn phải cảm kích chúng ta vì đã giúp ông ấy giữ trọn danh tiếng trung liệt cho con trai. Hơn nữa, tên Trần Tam Phục kia vốn ngang ngược ngông cuồng, làm ăn gì cũng dám nhúng tay vào. Chẳng phải đám thương nhân buôn muối ở Chiết Đông đều tìm đến nhờ ngài ra mặt xử lý hắn hay sao? Vừa hay có thể nhân cơ hội này xuất binh dạy cho Trần Tam Phục một bài học, đây chẳng phải là diệu kế một mũi tên trúng hai đích sao!”

Về sau, có không ít người suy đoán rằng biến cánh buồm than khóc là một âm mưu đã được mưu tính từ lâu. Thực ra, nguyên nhân khởi đầu đơn giản đến mức gần như một trò trẻ con, nhưng tuyệt đối không phải ngẫu nhiên, bên dưới mặt nước tưởng chừng phẳng lặng ấy, từ lâu đã cuồn cuộn những con sóng phức tạp và dữ dội, khi thế cục phát triển đến bước đó, tất yếu cần một chỗ để vỡ bờ trút xuống, mà cái chết của Dư Triệu Nam, chính là nguyên nhân ấy.

Ông Giới Phu và Tứ Minh Công bàn bạc, thống nhất xong mọi chi tiết, còn Phùng Cung Dụng thì trở thành thanh đao được đưa ra.

Ông dẫn người mai phục thuyền tuần tra đang đi tuần biển, giết sạch một đội lính tuần tra, rồi đặt thi thể của Dư Triệu Nam cùng với xác những binh lính ấy, sau đó, hắn đốt khói lang báo động, truyền tin khắp nơi rằng Trần Tam Phục đã tập kích giết hại quan binh.

Các đài báo hỏa nhìn thấy tín hiệu liền lần lượt tăng cường phòng bị, nhất thời khắp mặt biển khói lửa báo động nổi lên khắp nơi.

Đợi đến khi sự việc qua đi, lúc kiểm đếm lại, Phùng Cung Dụng mới kinh hãi nhận ra số người không đúng. Chiếc thuyền tuần tra xuất phát có mười một người, vậy mà trên thuyền chỉ có mười thi thể binh lính, còn một tiểu kỳ đứng đầu đội, chẳng hiểu đã biến mất từ lúc nào!

Phát hiện này khiến Phùng Cung Dụng lạnh toát cả người, tên lọt lưới kia có phải đã nhìn thấy gì không? Hắn đã phát hiện nguy hiểm và trốn đi từ lúc nào? Nếu người đó xuất hiện để làm chứng, lời nói dối ngút trời của toàn bộ biến cánh buồm than khóc sẽ không thể nào che giấu được nữa…

Ông không dám báo cho Tứ Minh Công, vừa sợ bị trách mắng, lại càng sợ mình bị vứt bỏ như một món đồ bỏ đi, bị đẩy ra gánh tội thay. Ông âm thầm truy tìm tung tích người đó nhưng không có kết quả, về sau, khi bắt được Hải Anh, ông vẫn luôn nghi ngờ bằng chứng trong tay Hải Anh có liên quan đến tên đào binh kia. Thế nhưng sau mấy lần dò xét, Hải Anh dường như hoàn toàn không hay biết chuyện gì.

Phùng Cung Dụng thấp thỏm sống qua ngần ấy năm, may mắn thay, tên đào binh kia vẫn chưa bao giờ xuất hiện lên tiếng, lâu đến mức Phùng Cung Dụng dần buông lỏng cảnh giác, cho rằng người đó có lẽ đã chết rồi, rồi cũng dần quên mất chuyện này.

Cho đến gần đây, sơ hở năm xưa lại bắt đầu quanh quẩn trong lòng ông, một dự cảm bất an cứ như bóng với hình.

Không chỉ bởi bầu không khí mưa gió sắp nổi lên ở phủ Ninh Ba hôm nay, khi biến cánh buồm than khóc đã trôi qua suốt mười hai năm bỗng liên tục bị nhắc lại, mà còn bởi gần đây Tứ Minh Công dường như đang âm thầm toan tính rất nhiều chuyện, nhưng lại hiếm khi nói cho Phùng Cung Dụng biết. Sự xa cách không một lời báo trước ấy khiến Phùng Cung Dụng càng thêm bất an.

“Các hạ đã đi theo ta suốt những ngày qua, không thấy mệt sao? Vào trong uống chén trà đi.” một giọng nói ôn hòa bỗng vang lên. Phùng Cung Dụng lập tức ngẩng phắt đầu lên, chỉ thấy Kỷ sư gia đang đứng bên trong cửa, ông khoác áo sam xanh, dáng vẻ đường hoàng, chẳng biết đã quan sát ông từ bao lâu.

Hành tung bị bại lộ, trên mặt Phùng Cung Dụng thoáng qua một tia lúng túng.

Kỷ sư gia lại dường như đã sớm đoán được, ung dung nghiêng người mời ông: “Nhà tranh tuy đơn sơ, nhưng vẫn có trà mới pha.”

Vào trong viện, xuyên qua khu vườn hoang vắng, Kỷ sư gia chậm rãi dẫn đường, giọng điệu tựa như chỉ đang chuyện phiếm.

“Nhà họ Dư ba đời đơn truyền, năm xưa, lão gia vì Triệu Nam công tử mà mời thầy riêng, đích thân giám sát việc học đến tận canh ba. Mỗi lần đến sinh thần của công tử, ông ấy nhất định cho người từ kinh thành mang cả thuyền lễ vật tới…” ông bỗng dừng bước, nhìn một cây mai khô rồi khẽ thở dài: “Người đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh, suốt hơn mười năm nay, lão gia chưa có một ngày nào được vui vẻ.”

Những lời này nghe thì rất thân thiện, nhưng lại giống như một sự nhấn mạnh kỳ lạ, Dư đại nhân càng coi trọng đứa con trai này bao nhiêu, Phùng Cung Dụng càng thấy sống lưng lạnh toát bấy nhiêu.

Đến chính đường, Kỷ sư gia khép cửa sổ lại, đốt một nén đàn hương. Ông đun nước bằng ấm đồng, tự tay pha trà, từng động tác đều uyển chuyển, trôi chảy như mây nước.

Cổ họng Phùng Cung Dụng khô khốc, ông nhận lấy chén trà, chưa kịp thưởng thức đã ngửa đầu uống cạn.

Ông hơi trấn tĩnh lại, nở nụ cười nói: “Gần đây phủ Ninh Ba không được yên ổn, tại hạ… đặc biệt đến đây để bảo vệ an toàn cho sư gia. Lão tôn ông vốn không muốn làm rùm beng chuyện này, những chuyện lớn nhỏ trong phủ Ninh Ba, ông ấy xưa nay chẳng thiếu lần ra tay quản tới, chỉ là không thích để lại danh tiếng, không ngờ vẫn bị sư gia phát hiện, mong ngài tuyệt đối đừng hiểu lầm.”

Kỷ sư gia phất tay áo rót trà, khẽ mỉm cười, không tỏ ý kiến, trái lại thẳng thắn nói: “Thực ra, là Dư đại nhân nhà ta nghe nói biến cánh buồm than khóc năm xưa còn có ẩn tình, nên đặc biệt phái ta âm thầm điều tra.”

“Hầy,” Phùng Cung Dụng cười nói, “đó chẳng qua chỉ là những lời đồn đại quá mức ở chốn dân gian mà thôi, một vụ án quan phủ đã sớm kết luận rồi, sao có thể xảy ra sai sót được?”

“Phùng tiên sinh,” Kỷ sư gia cắt ngang lời ông, đầu chổi trà khẽ chạm vào thành chén, “những lời khách sáo này đem ra lừa dân chúng thì còn được. Lão gia nhà ta đang ở chốn đài các, chẳng lẽ lại không biết câu ‘quan’ có hai cái miệng hay sao?”

Phùng Cung Dụng nghẹn lời, ông vốn không phải người giỏi ăn nói, nhất là khi đứng trước những kẻ văn nhân đã ở địa vị cao lâu năm, chỉ vài ba câu, sự khiếp nhược trong lòng ông đã lộ ra.

Kỷ sư gia bỗng nghiêng ấm trà, dòng nước trà xanh biếc chậm rãi rót đầy chén gốm, ông thẳng thừng lật lá bài cuối cùng: “Tiên sinh đã bao giờ nghĩ đến chuyện bỏ tối theo sáng chưa? Dư đại nhân nhà ta chưởng quản phong hiến, phụ trách việc đàn hặc, ở triều đình rất có tiếng nói. Nếu tiên sinh bằng lòng giúp chúng ta điều tra rõ chân tướng, nhất định sẽ đảm bảo cho tiên sinh nửa đời sau được bình an.”

Nước nóng dần tràn ra, bỏng lên những ngón tay Phùng Cung Dụng, nhưng ông hoàn toàn không hay biết, trái lại còn siết chặt thành chén.

“Nhất quyết đối địch với Dư gia…” ánh mắt Kỷ sư gia lướt qua mu bàn tay đỏ ửng của ông, miệng ấm vẫn lơ lửng trên chén, từng giọt nước còn sót lại tí tách rơi xuống.

Khi Phùng Cung Dụng trở về tiểu viện Tĩnh Quan, lớp áo trong đã thấm đẫm mồ hôi lạnh, dính nhớp sát vào sống lưng, ông đang định vòng qua phòng tắm để rửa sạch bộ dạng nhếch nhác này, lại thấy chính đường đèn đuốc sáng trưng. Tứ Minh Công đang ngồi ngay ngắn bên trong, sắc mặt nghiêm nghị lạnh lùng như sắt.

Tim ông chợt trĩu xuống, cố nén hoảng loạn, bước nhanh tới, thấp giọng hỏi: “Cha nuôi… xảy ra chuyện gì vậy?”

“Bọn chúng động rồi.” giọng Tứ Minh Công vọng ra như từ một cái giếng sâu, mang theo âm vang lạnh lẽo u ám.

“Cha nuôi nói là… Bùi Thúc Dạ?”

“Đợi lâu như vậy, cuối cùng Hải Anh cũng có chút tin tức rồi.” khóe môi Tứ Minh Công nhếch lên một đường cong lạnh băng, vẻ đắc thắng nắm chắc phần thắng, “Bao công sức ta bố trí suốt thời gian qua quả nhiên không uổng, Bùi Thúc Dạ liều mạng tìm nàng như vậy, ta cũng muốn xem rốt cuộc trong tay nàng đang nắm giữ thứ gì.”

Trong ván đấu này, Tứ Minh Công ở ngoài sáng, Bùi Thúc Dạ ở trong tối, hắn ra chiêu luôn khiến người ta khó lòng phòng bị, vì thế, Tứ Minh Công dứt khoát thả manh mối cho Bùi Thúc Dạ, để hắn tự mình đi tìm.

Hai người mỗi bên đều nắm giữ một số tin tức hữu dụng, một khi bổ sung cho nhau, bức tranh về Hải Anh vẫn có thể ghép lại hoàn chỉnh, nhưng đến lúc này, thế cục đã đảo ngược.

Giờ đây, người ở trong tối đã trở thành Tứ Minh Công.

……

Từ Diệu Tuyết cùng Bùi Thúc Dạ đi chung một chiếc thuyền tuần tra nhỏ, rẽ màn sương sớm, hướng về hòn đảo cô độc được đánh dấu trên hải đồ.

Muốn đến hòn đảo ấy, nhất định phải đi qua vùng biển do các vệ sở thủy sư quản lý, vì vậy Bùi Thúc Dạ chỉ có thể lấy danh nghĩa tuần phòng vùng biển để xuất phát. Theo 《Đại Minh hội điển》, phàm thuyền quan ra biển tuần tra đều phải khai báo nhân viên và lý do, ghi vào 《Nhật ký tuần hải》 để tiện kiểm tra đối chiếu sau này.

Bùi Thúc Dạ tuy giữ chức vị cao, theo lý có thể gióng trống khua chiêng mang theo cả đoàn tùy tùng, nhưng để tránh lưu lại dấu vết trong đống công văn hồ sơ, hắn chỉ có thể làm theo lệ thường, chỉ mang theo một hộ vệ tùy hành.

Thế là Từ Diệu Tuyết đành thế chỗ Cầm Sơn, giả làm thân binh, nàng dùng vải xanh quấn tóc, mặc trang phục gọn nhẹ, cúi mày rũ mắt, ngoan ngoãn đi theo sau Bùi Thúc Dạ.

Mà kể từ khi rời Vệ Sở, bước lên chiếc thuyền nhỏ, cả hai đều bày ra bộ dạng giải quyết công việc công, không chút tư tình.

Một người chắp tay sau lưng đứng ở đầu thuyền, ngóng nhìn tình hình ngoài biển.

Một người cúi đầu ngồi trong khoang thuyền, ngẩn ngơ xuất thần.

Cho dù đêm đã khuya, khi cả hai cùng ngồi trong khoang thuyền, giữa họ cũng chỉ có đôi ba câu đối thoại vụn vặt thường ngày.

Gió biển mằn mặn xuyên qua lại giữa hai người, nhưng chẳng thể mang theo tiếng cười nói vui vẻ của những ngày trước.

 


Khám phá thêm từ VIVIAN THÍCH ĂN DÂU TÂY

Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.

Comments

No comments yet. Why don’t you start the discussion?

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *